vanban.org

Bản án 19/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về "Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn" của chị Hoàng Thị L.

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hoàng Thị L được ly hôn với anh Ma Văn Th. Về con chung: Giao cháu Ma Hiền L, sinh ngày 19/02/2008; Ma Minh T, sinh ngày 28/6/2010 và Ma Anh T, sinh ngày 31/8/2016 cho chị Hoàng Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh Ma Văn Th không phải cấp dưỡng nuôi co…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn Hoàng Thị L - Ma Văn Th"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về "Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn" của chị Hoàng Thị L.
  • Căn cứ chính? Điều 143 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị; Điều 144 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHIÊM HÓA
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 02-6-2022
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HOÁ - TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Huệ.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Hường.

2. Bà Tưởng Thị Thu.

- Thư ký phiên toà: Bà Bàn Thị Bích Duyên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Chu Thị Hoa - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án ly hôn thụ lý số: 231/2021/TLST - HNGĐ ngày 03 tháng 11 năm 2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 4 năm 2022; quyết định hoãn phiên tòa số: 14/2022/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2022 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị L (Hoàng Thị L), sinh năm 1987.

Địa chỉ: Thôn LĐ, xã HP, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang.

* Bị đơn: Anh Ma Văn Th, sinh năm 1985.

Địa chỉ: Thôn LĐ, xã HP, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang.

(Chị L có mặt, anh Th vắng mặt lần 2 không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, quan điểm trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Hoàng Thị L trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Ma Văn Th qua tìm hiểu tự nguyện đã đăng ký kết hôn vào ngày 26/12/2006 tại UBND xã HP, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Sau khi kết hôn vợ chồng chị sống tại thôn LĐ, xã HP, huyện Chiêm Hóa. Vợ chồng chị sống hạnh phúc đến cuối năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp, thường xuyên cãi chửi nhau, thậm trí nhiều lúc còn đánh nhau, mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình khuyên bảo, hòa giải nhưng không cải thiện được, chị và anh Th sống ly thân từ năm 2019 đến nay. Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Ma Văn Th.

- Về con chung: Vợ chồng chị có 03 con chung là cháu Ma Hiền L, sinh ngày 19/02/2008; Ma Minh T, sinh ngày 28/6/2010 và Ma Anh T, sinh ngày 31/8/2016. Nay ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả ba con chung và không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên toà chị L giữ nguyên quan điểm của mình là đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Ma Văn Th, về con chung chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Ma Hiền L, sinh ngày 19/02/2008; Ma Minh T, sinh ngày 28/6/2010 và Ma Anh T, sinh ngày 31/8/2016 và không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn. Về tài sản và nợ chung: Chị L xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã thông báo, triệu tập anh Ma Văn Th đến để giải quyết việc chị Hoàng Thị L yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn nhưng anh Th không có mặt và không có ý kiến trình bày đối với các nội dung đơn khởi kiện của chị Hoàng Thị L. Qua xác minh tại địa phương thì hiện nay anh Th vẫn đăng ký hộ khẩu Th trú tại thôn Làng Đẩu, xã Hòa Phú, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Theo lời khai của bà Ma Thị X (mẹ ruột anh Ma Văn Th) thì chị L và anh Th kết hôn với nhau năm 2006 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện đến nay đã có với nhau ba người con chung là Ma Hiền L, sinh ngày 19/02/2008; Ma Minh T, sinh ngày 28/6/2010 và Ma Anh T, sinh ngày 31/8/2016. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng giữa chị L và anh Th là do chị L đi làm ăn xa có quan hệ với người đàn ông khác, hai bên gia đình đã khuyên bảo vợ chồng quay lại đoàn tụ với nhau, chị L ở nhà chăm sóc con, anh Th đi làm công nhân ở tỉnh Hải Dương, khi anh Th đi làm được hơn một tháng thì chị L đưa theo ba người con về thôn Đèo Chắp, xã Hòa Phú thuê nhà sinh sống. Hiện nay anh Th đang làm công nhân ở tỉnh Hải Dương, địa chỉ cụ thể nơi làm việc của anh Th bà không nắm được do anh Th không cho bà biết, anh Th hay liên lạc về với gia đình bằng điện thoại. Anh Th biết hiện nay Tòa án đang thụ lý giải quyết việc ly hôn giữa chị L và anh Th, nhưng do điều kiện công việc nên anh Th không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án. Anh Th và chị L không có tài sản chung và không có vay nợ chung. Về quan điểm của anh Th đối với việc xin xin hôn của chị L, anh Th đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án đều đảm bảo đúng quy định. Bị đơn chưa thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án căn cứ các Điều 51, 53, 56, 57, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; các Điều 28, 35, 39, 143, 144, 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đề nghị:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” của chị Hoàng Thị L; cho chị Hoàng Thị L được ly hôn với anh Ma Văn Th.

- Về con chung: Giao cháu Ma Hiền L, sinh ngày 19/02/2008; Ma Minh T, sinh ngày 28/6/2010 và Ma Anh T, sinh ngày 31/8/2016 cho chị Hoàng Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Ma Văn Th không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Hoàng Thị L xác định không có, không đề nghị Tòa án giải quyết, do vậy không xem xét.

- Về án phí và quyền kháng cáo: Chị Hoàng Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Chị Hoàng Thị L khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang giải quyết cho chị ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn với anh Ma Văn Th; anh Ma Văn Th có hộ khẩu Th trú tại thôn LĐ, xã HP, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang.

Quá trình xác minh tại địa phương cho thấy, anh Ma Văn Th có hộ khẩu Th trú tại thôn LĐ, xã HP, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Theo thông tin từ gia đình, anh Th đi làm công nhân tại tỉnh Hải Dương nhưng không thông báo địa chỉ cụ thể nên hiện tại không rõ anh Th đang ở đâu. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án thông báo, triệu tập, gia đình anh Th đã thông báo cho anh Th nhưng anh Th vẫn không về và cũng không thông báo địa chỉ cụ thể nơi ở và nơi làm việc, đây được xem là trường hợp người bị kiện cố tình che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ nên Tòa án vẫn giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa đã tiến hành xác minh thu thập chứng cứ; thực hiện các thủ tục niêm yết, tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật, tuy nhiên bị đơn anh Ma Văn Th vẫn vắng mặt lần thứ hai. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa quyết định xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại các Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc xem xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị L và anh Ma Văn Th tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 26/12/2006 tại UBND xã HP, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang nên được xác định là hôn nhân hợp pháp.

Qua kết quả xác minh tại thôn LĐ, xã HP, huyện Chiêm Hóa cho thấy: Chị L và anh Th kết hôn với nhau vào năm 2006, sau khi kết hôn chị L và anh Th sinh sống tại thôn LĐ, xã HP, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị L và anh Th xảy ra đã lâu, nguyên nhân là do trong thời gian chị L đi làm ăn xa anh Th có nghi ngờ chị L có quan hệ với người đàn ông khác, từ đó dẫn đến vợ chồng Th xuyên cãi chửi nhau, năm 2019 chị L và anh Th đã nhờ tổ hòa giải của thôn tiến hành hòa giải nhưng không thành, sau đó anh Th đi làm ăn xa chị L đem theo ba người con về thôn ĐC, xã HP sinh sống. Hội đồng xét xử thấy rằng, cuộc sống chung của vợ chồng chị L và anh Th thực tế đã không tồn tại từ năm 2019 đến nay; chị L và anh Th đã không còn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau nên không thể tồn tại một gia đình hạnh phúc, tiến bộ. Như vậy, căn cứ vào các Điều 51, 53, 56, 57 Luật hôn nhân và gia đình thì tình trạng hôn nhân của chị L và anh Th đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị L là xử cho chị L được ly hôn với anh Ma Văn Th. Trường hợp có sự thay đổi về điều kiện trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục ảnh hưởng đến quyền lợi về mọi mặt của con và các bên đương sự có yêu cầu thì Tòa án sẽ xem xét giải quyết bằng một vụ án khác theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Chị Hoàng Thị L và anh Ma Văn Th có 03 con chung là cháu Ma Hiền L, sinh ngày 19/02/2008; Ma Minh T, sinh ngày 28/6/2010 và Ma Anh T, sinh ngày 31/8/2016, quá trình giải quyết vụ án chị L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả ba con chung, tại biên bản lấy lời khai cháu Lương và cháu Tâm có lời khai trình bày nguyện vọng được ở với chị L. Trong quá trình giải quyết vụ án anh Ma Văn Th biết được Tòa án đang thụ lý giải quyết vụ án ly hôn giữa chị L và anh Th, nhưng anh Th không có văn bản trình bày ý kiến về nguyện vọng của mình khi ly hôn và con chung, hiện nay anh Th đi làm ăn xa Th xuyên không có mặt tại địa phương nên cần giao con cho chị L nuôi dưỡng là hợp lý. Do vậy căn cứ các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình giao cháu Ma Hiền L, sinh ngày 19/02/2008; Ma Minh T, sinh ngày 28/6/2010 và Ma Anh T, sinh ngày 31/8/2016 cho chị Hoàng Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh Th không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Hoàng Thị L, xác định không có, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Về án phí: Căn cứ các Điều 143, 144, 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chị Hoàng Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật. Anh Ma Văn Th không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 143, 144, 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 53, 56, 57, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về "Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn" của chị Hoàng Thị L.

- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hoàng Thị L được ly hôn với anh Ma Văn Th.

- Về con chung: Giao cháu Ma Hiền L, sinh ngày 19/02/2008; Ma Minh T, sinh ngày 28/6/2010 và Ma Anh T, sinh ngày 31/8/2016 cho chị Hoàng Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh Ma Văn Th không phải cấp dưỡng nuôi con chung khi ly hôn.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

- Về án phí: Chị Hoàng Thị L phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số AA/2021/0003564 ngày 03 tháng 11 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Anh Ma Văn Th không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn.

- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai./.

Cỡ chữ