- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn tranh chấp về nuôi con giữa chị Nguyễn Thị Ngọc B - anh Triệu Thanh Đ"
- Tòa quyết gì? luật tố tụng dân sự; Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO THẮNG TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2022/HNGĐ-ST Ngày 19-5-2022 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO THẮNG - TỈNH LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoàng Liên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Huệ.
2. Ông Phạm Tuấn Thịnh.
Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Thanh Tuyền - Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai tham gia
phiên tòa: Bà Lê Thị Thủy – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 5 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bảo Thắng,
tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 41/2022/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2022 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 25/2022/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ngọc B - Sinh năm: 1996;
Địa chỉ: Thôn A, thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai - Có mặt.
2. Bị đơn: Anh Triệu Thanh Đ - Sinh năm: 1996;
Địa chỉ: Tổ dân phố P, thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt và có
đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 22/02/2022 và bản tự khai của chị Nguyễn Thị
Ngọc B trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, chị B trình bầy:
Chị và anh Triệu Thanh Đ chung sống với nhau như vợ chồng từ đầu năm
2017, đến ngày 16/3/2017 anh chị đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính cách không hợp, bất đồng quan điểm, hãy cãi nhau, không nói chuyện được với nhau. Do mâu thuẫn nên anh chị đã sống ly thân từ năm 2018 đến nay không quan tâm đến nhau. Chị B xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng không thể khắc phục nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Triệu Thanh Đ.
Tại bản tự khai ghi ngày 18/3/2022, anh Triệu Thanh Đ trình bầy: Anh và
chị Nguyễn Thị Ngọc B đăng ký kết hôn ngày 16/3/2017 tại UBND thị trấn Phố Lu, huyện Bảo Thắng. Sau đó, anh chị phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, tính cách không hợp, vợ chồng cãi nhau, cuộc sống không hòa thuận hạnh phúc. Anh chị đã sống ly thân từ năm 2018 đến nay, không còn tình cảm với nhau. Đến nay chị B có đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho anh chị ly hôn thì anh nhất trí, đề nghị Tòa án giải quyết cho anh chị ly hôn.
Về con chung: Chị B và anh Đ đều xác nhận, quá trình chung sống có một
con chung là Triệu Tuấn K – Sinh ngày: 11/10/2017, hiện tại cháu K phát triển bình thường và đang sống cùng chị B. Chị B có nguyện vọng nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn và không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Anh Đ cũng nhất trí để chị B nuôi con chung và không có ý kiến gì khác.
Về tài sản chung: Chị B và anh Đ đều xác nhận không có tài sản chung,
không nợ ai và không cho ai vay nợ nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng
cho các đương sự theo quy định. Tòa án đã tiến hành mở phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai các tài liệu, chứng cứ nhưng không hòa giải được vụ án vì vắng mặt bị đơn. Tòa án đã thông báo kết quả phiên họp cho anh Triệu Thanh Đ theo quy định, anh Đ không có ý kiến gì khác.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng phát biểu ý
kiến trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến phiên tòa hôm nay: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đều thực hiện đúng các quy định của pháp luật: về thủ tục Tố tụng dân sự, xác định đúng quan hệ pháp luật, đúng tư cách người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ và giải quyết trong thời hạn luật định.
Nguyên đơn chấp hành tốt các quy định của pháp luật khi tham gia tố tụng,
tuy nhiên tại phiên tòa ngày 22/4/2022 thì nguyên đơn và bị đơn đều vắng mặt nên Tòa án đã hoãn phiên tòa; Bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và có bản tự khai trình bầy ý kiến và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Lời khai của các đương sự phù hợp với các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án, xác định chị B và anh Đ có mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, tính cách không hợp, vợ chồng sống ly thân nhiều năm, mâu thuẫn của anh chị được địa phương xác nhận là đúng sự thật. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 227, Khoản 1 Điều 228, Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, xử cho chị Nguyễn Thị Ngọc B được ly hôn với anh Triệu Thanh Đ; xử giao cháu Triệu Tuấn K - Sinh ngày: 11/10/2017 cho chị B trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, do chị B không yêu cầu cấp dưỡng tiền nuôi con chung nên không xem xét giải quyết. Đề nghị tuyên án phí, quyền kháng cáo cho đương sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra
tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị Ngọc B khởi kiện xin ly hôn với anh
Triệu Thanh Đ và đề nghị Tòa án giải quyết việc nuôi dưỡng chăm sóc con chung khi ly hôn. Bị đơn có hộ khẩu thường trú tại thị trấn Phố Lu, huyện Bảo Thắng. Vì vậy đây là tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Ngọc B
và anh Triệu Thanh Đ là hợp pháp. Quá trình chung sống, anh chị phát sinh mâu thuẫn do tính cách không hợp, bất đồng quan điểm, cuộc sống sống không hòa thuận, hạnh phúc. Anh, chị không tìm được tiếng nói chung và đều xác nhận đã sống ly thân, vợ chồng không quan tâm đến nhau. Việc anh, chị có mâu thuẫn và sống ly thân đã được địa phương xác nhận là đúng sự thật. Do mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng và mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy việc chị B xin ly hôn với anh Đ là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho các đương sự
theo quy định của pháp luật, tuy nhiên không tiến hành hòa giải được vụ án do bị đơn vắng mặt. Tại phiên tòa lần thứ nhất thì nguyên đơn và bị đơn đều vắng mặt nên Tòa án phải hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa ngày 19/5/2022, bị đơn đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định. Vì vậy Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về con chung: Chị B và anh Đ đều xác nhận, quá trình chung sống anh
chị có một con chung là cháu Triệu Tuấn K - Sinh ngày: 11/10/2017, hiện tại cháu phát triển bình thường và đang sống cùng chị B.
Chị B có nguyện vọng nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn và không yêu
cầu anh Đ cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Anh Đ cũng có văn bản nhất trí để chị B được nuôi dưỡng con chung, anh không có ý kiến gì khác. Chị B đã cung cấp chứng cứ có xác nhận của địa phương về mức thu nhập đảm bảo điều kiện nuôi con. Vì vậy cần tiếp tục giao cháu Triệu Tuấn Kiệt cho chị B trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Do chị B không yêu cầu cấp dưỡng tiền nuôi con chung nên không xem xét giải quyết.
[4] Về tài sản chung và công nợ chung: Các đương sự đều xác nhận không
có tài sản chung, không nợ ai và không cho ai vay nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[5] Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ngọc B phải chịu tiền án phí dân sự sơ
thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 227, Khoản 1 Điều 228, Khoản 4 Điều 147 Bộ
luật tố tụng dân sự; Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
1. Xử cho chị Nguyễn Thị Ngọc B được ly hôn với anh Triệu Thanh Đ.
2. Về con chung: Xử giao cháu Triệu Tuấn K - Sinh ngày: 11/10/2017 cho
chị Nguyễn Thị Ngọc B trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu Kiệt đủ 18 tuổi; Anh Triệu Thanh Đ không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, anh Triệu Thanh Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con
chung mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ngọc B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là
300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0002854 ngày 28/02/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai; Chị B đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Nguyên
đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:
| - Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai; - VKSND huyện Bảo Thắng (2); - THADS huyện Bảo Thắng; - UBND thị trấn P; - Đương sự (02); - Lưu HS, TA, VP . | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hoàng Liên |