vanban.org

Bản án 19/2022/HNGĐ-ST — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* C¨n cø: Kho¶n 3 §iÒu 28, khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39, Điều 144, khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự;

Về án phí DSST: Anh Nguyễn Văn N phải nộp 300.000đ( Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ anh N đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bỉm sơn theo biên lai thu số: AA/2021/0005158 ngày 11/7/2022. Như vậy, anh N đã thi hành xong khoản án p… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp nuôi con sau ly hôn"
  • Tòa quyết gì? * C¨n cø: Kho¶n 3 §iÒu 28, khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39, Điều 144, khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự;
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BỈM SƠN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:19/2022/HNGĐ - ST
Ngày 07-9-2022
V/v: “Tranh chấp thay đổi
người trực tiếp nuôi con sau ly hôn”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BỈM SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Tống Thị Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Đình Hồng

Ông Vũ Văn Thoa

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Dung, là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huấn - Kiểm sát viên

Ngày 07 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số: 65/2022/ TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 7 năm 2022 về việc “ Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số:23/2022/Q§XXST- HNGĐ ngày 23tháng 8 năm 2022 gi÷a:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn N - sinh năm 1978 Trú quán: Số nhà 634, Nhà HH2B, Bán Đ, H, H, H( Có mặt).

Bị đơn: Chị Phan Thị Như Q - sinh năm 1986 Trú quán: SN 35 đường Trần Phú, khu phố 3, phường B, thị xã B, tỉnh T( Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 04/7/2022 và bản tự khai nguyên đơn anh Nguyễn Văn N trình bày:

Ngày 26/02/2020 Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh T xét xử vụ án ly hôn giữa anh và chị Phan Thị Như Q, có quyết định công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh và chị Q đồng thời giao con chung là cháu Nguyễn Trọng T sinh ngày 04/7/2011 cho chị Q nuôi dưỡng và anh không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Trong 2 năm qua con anh vẫn ở nhà ông, bà ngoại, không ở với mẹ, thi thoảng có sang chỗ ở mà chị Q thuê sau trường Đại học Tài nguyên Môi trường thị xã Bỉm Sơn. Hiện nay gia đình ông bà ngoại của cháu T đang ở có tới 10 người cùng sinh sống, sinh hoạt( ba thế hệ 6 người lớn, 4 trẻ nhỏ) nên cũng gặp nhiều khó khăn, làm ảnh hưởng đến cuộc sống ông bà ngoại. Mặt khác chị Q hiện nay vẫn đang dạy hợp đồng tại trường liên cấp 1 và cấp 2 Phú Sơn, nên thu nhập cũng chưa thật ổn định… Ngoài ra trong thời gian ngắn từ ngày 26/5 đến ngày mùng 04/7/2022 con anh ra Hà Nội đi chơi và anh cho đi khám sức khỏe tại bệnh viện Nhi Trung ương Hà Nội, anh theo dõi cháu mỗi lần mẹ gọi điện ra là sợ bắt về, lại khóc, bảo không muốn xuống Bỉm Sơn và không muốn học ở Bỉm Sơn, khi anh cho cháu về nhà ông bà nội ở xã V, huyện V, tỉnh T cứ mỗi lần mẹ gọi điện lên cháu lại sợ, khóc, đây là hiện tượng hoảng sợ mẹ của cháu Tùng, không muốn nghe điện của mẹ, sợ mẹ chửi, mắng…. Trước tình hình đã nêu trên và tâm lý hoảng sợ mẹ đẻ của con anh như vậy. Anh làm đơn yêu cầu Tòa án xem xét xử để cháu Nguyễn Trọng T được ổn định tâm lý sớm bước vào một năm học mới, vì năm nay cháu bắt đầu lên lớp 6. Anh đề nghị Tòa án thay đổi quyền nuôi con và không yêu cầu chị Q cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Trọng T.

Về phía bị đơn: Tại bản tự khai ngày 13/7/2022 chị Phan Thị Như Q trình bày: Hiện nay con chị đang học ổn định, chị chăm sóc giáo dục con tốt và cho cháu môi trường sống tốt. Mức thu nhập hàng tháng tại trường tiểu học và trung học cơ sở Phú Sơn là 6.200.000đ. Ngoài ra chị còn làm ngoài tham gia tổ chức các sự kiện. Mức lương trung bình hàng tháng hơn chục triệu. Chị còn có mảnh đất riêng tại khu phố 4, phường Bắc Sơn, thị xã Bỉm Sơn. Nhận thấy điều kiện của chị đủ khả năng để nuôi con. Nên chị không đồng ý để thay đổi nuôi con.

Tại biên bản xác minh ngày 01/08/2022 của Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn với ông Nguyễn Văn L( trưởng khu phố 3, phường Ba Đình, thị xã Bỉm Sơn) cung cấp: Cháu Nguyễn Trọng T sinh ngày 04/7/2011 là con của anh Nguyễn Văn N và chị Phan Thị Như Q. Sau khi anh Ngọ và chị Q ly hôn, cháu Tùng ở với mẹ và ông bà ngoại tại số nhà 35 đường Trần Phú, phường B, thị xã B. Chị Q thường xuyên đi dạy và đi hát tại các sự kiện. Trong thời gian sinh sống tại đây, cháu T có điều kiện sinh hoạt và cuộc sống ổn định. Thể chất và tinh thần hoàn toàn bình thường.

Tại biên bản xác minh của Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn với ông Lại Thế T ( là giáo viên trường tiểu học Ba Đình) cung cấp: Thầy T là giáo viên chủ nhiệm của cháu Nguyễn Trọng T con của anh Nguyễn Văn N và chị Phan Thị Như Q. Trong quá trình học tập và sinh hoạt tại trường học cháu T có những biểu hiện về học tập và sinh hoạt bình thường. Kế qủa học tập đạt ở mức hoàn thành. Theo quan sát của thầy thì thời gian học kỳ II của lớp 5 cháu T có biểu hiện sa sút, thiếu tập trung trong học tập so với những kỳ học trước và khả năng của bản thân. Đôi lúc trang phục chưa gọn gàng, chưa tươm tất. Tuy nhiên cháu không có biểu hiện gì ảnh hưởng đến tinh thần, những mặt sinh hoạt khác đều bình thường. Bố cháu tuy ở xa nhưng luôn quan tâm đến điều kiện, tình hình học tập của cháu và đóng góp đầy đủ. Do vậy, thầy cung cấp thông tin trên để Tòa án có căn cứ giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Tại buổi hòa giải ngày 05/8/2022 các bên vẫn giữ nguyên quan điểm của mình. Anh N đề nghị giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con là cháu Nguyễn Trọng T từ chị Q sang cho anh và anh không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung. Chị Q không đồng ý chuyển con cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng nên đề nghị Tòa án bác đơn khởi kiện của anh Ngọ.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn anh Nguyễn Văn N vẫn giữ nguyên quan điểm xin thay đổi người trực tiếp nuôi con là cháu Nguyễn Trọng T từ chị Q sang anh N và không yêu cầu chị Q cấp dưỡng nuôi con chung. Chị Phan Thị Như Q vẫn giữ nguyên quan điểm không đồng ý thay đổi người trực tiếp nuôi con

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

- Đề nghị HĐXX : Căn cứ kho¶n 3 §iÒu 28, Điều 144, khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 84 / Luật hôn nhân gia đình; khoản 3 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 và danh mục mức án phí lệ phí ban hành kèm theo;

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn N.

- Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn không được chấp nhận nên đề nghị buộc anh Ngọ phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát và đương sự tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

Xét về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Anh Nguyễn Văn N khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con. Đây là quan hệ pháp luật “ Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”; bị đơn có hộ khẩu thường trú tại phường Ba Đình, thị xã Bỉm Sơn. Vì vậy thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn theo quy định tại khoản 3 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự;

Xét về yêu cầu của đƣơng sự HĐXX thấy:

Anh Nguyễn Văn N và chị Phan Thị Như Q ly hôn tháng 02 năm 2020 theo bản án số: 04/2020 ngày 26/02/2020. Về phần con chung: Tòa án đã giao con chung của vợ chồng là cháu Nguyễn Trọng T( nam) sinh ngày 04/7/2011 cho chị Q trực tiếp nuôi dưỡng, anh N không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Nay anh N xin thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn chị Q không đồng ý. Xét yêu cầu của đôi bên thấy rằng: Về phía anh N cho rằng trong thời gian qua cháu T ở nhà với ông bà ngoại không ở với mẹ, thi thoảng có sang chỗ chị Q thuê nhà sau trường Đại học tài nguyên môi trường. Hiện nay gia đình ông bà ngoại của cháu T đang ở có tới 10 người cùng sinh sống, sinh hoạt nên gặp nhiều khó khăn. Mặt khác chị Q hiện đang dạy hợp đồng tại trường cấp 1, cấp 2 Phú Sơn thu nhập chưa ổn định. Trong thời gian cháu T ở với anh tại Hà Nội anh thấy mỗi lần chị Q điện ra là sợ bắt về, khóc, nói không muốn về Bỉm Sơn, mẹ gọi điện cháu sợ khóc anh cho rằng là hiện tượng hoảng sợ mẹ của cháu T nên anh làm đơn thay đổi người trực tiếp nuôi con. Chị Q cho rằng hiện nay cháu T đang học ổn định, chị chăm sóc giáo dục và cho con môi trường sống tốt. Mức thu nhập hàng tháng tại trường học là 6.200.000đ. Ngoài ra chị còn tham gia các tổ chức sự kiện thu nhập thêm khoảng 10.000.000đ và chị còn có mảnh đất riêng tại khu phố 4, phường Bắc Sơn, thị xã Bỉm Sơn nên chị không thay đổi trực tiếp nuôi con. Xét nguyện vọng xin nuôi con của anh N và chị Q đều chính đáng, đều thể hiện nghĩa vụ, trách nhiệm của mình đối với con cái. Tuy nhiên, đối với anh N tuy có công ăn việc làm ổn định, thu nhập cao nhưng công việc còn nhiều, anh chưa có nhà ổn định, đang mượn nhà chú ở có một mình anh, nên điều kiện chăm sóc con còn khó khăn. Chị Q đang là giáo viên mức thu nhập bình quân thấp hơn anh tuy nhiên chị Q có nhiều thời gian và điều kiện để chăm sóc cháu T tốt hơn anh N. Hơn nữa, cháu T đang ở với chị Q và được ông bà ngoại hỗ trợ nếu chị Q bận công việc vẫn có người chăm sóc cháu. Nên cháu rất cần sự quan tâm, chăm sóc của người mẹ và cháu T cũng có nguyện vọng ở với mẹ. Vì vậy, để tạo điều kiện phát triển toàn diện cho cháu T cả về thể chất và tinh thần cần giao cháu T cho chị Q nuôi nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu đến tuổi thành niên là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con hai bên không yêu cầu nên miễn xét. [3] Về án phí DSST: Anh Nguyễn Văn N phải nộp án phí DSST theo quy định của pháp luật.

Bởi những lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

* C¨n cø: Kho¶n 3 §iÒu 28, khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39, Điều 144, khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Khoản 2 Điều 84 / Luật hôn nhân gia đình;

- Điều 6, khoản 3 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 và danh mục mức án phí lệ phí ban hành kèm theo; * Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn N đối với chị Phan Thị Như Q về việc “ Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”

- Về án phí DSST: Anh Nguyễn Văn N phải nộp 300.000đ( Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ anh N đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bỉm sơn theo biên lai thu số: AA/2021/0005158 ngày 11/7/2022. Như vậy, anh N đã thi hành xong khoản án phí DSST. Án xử công khai sơ thẩm có mặt anh Nguyễn Văn N và chị Phan Thị Như Q. Anh N, chị Q được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm(07/9/2022).

Cỡ chữ