vanban.org

Bản án 19/2022/DS-ST — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng

TAND TX. Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 05/07/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Khánh H đối với bị đơn chị Trần Ngọc Bích T, buộc chị T bồi thường thiệt hại sức khỏe là 980.

Bác yêu cầu phản tố của bị đơn chị Trần Ngọc Bích T đối với nguyên đơn chị Nguyễn Khánh H về yêu cầu bồi thường thiệt hại tài sản bị mất là chiếc bông tai vàng có khối lượng 05 phân 01 ly vàng 18 kara, trị giá 1.740.000 đồng (một triệu bảy trăm bốn mươi nghìn dồng) . Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyê… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Bồi thường thiệt hại"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Khánh H đối với bị đơn chị Trần Ngọc Bích T, buộc chị T bồi thường thiệt hại sức khỏe là 980.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ H TIÊN
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2022/DS-ST
Ngày: 05/7/2022
V/v tranh chấp bồi thường thiệt hại
về sức khỏe

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H TIÊN, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thanh Phương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lâm Lệ Oanh.

2. Bà Trần Thị An.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Như Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố H Tiên, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H Tiên tham gia phiên toà: Bà Lâm Thanh Thủy - Kiểm sát viên.

Trong ngày 05 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 114/2022/TLST-DS, ngày 17 tháng 11 năm 2020 về việc tranh chấp bồi thường thiệt hại về sức khỏe” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2022/QĐXXST-DS, ngày 01 tháng 6 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Khánh H, sinh năm 2002. Địa chỉ: Khu phố 1, phường P, Thành phố H, tỉnh Kiên Giang;

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Tạ Xuân L, sinh năm 1972. Địa chỉ: Số Khu phố 1, phường P, Thành phố H, tỉnh Kiên Giang.

2. Bị đơn: Chị Trần Ngọc Bích T, sinh năm 1995. Địa chỉ: Khu phố 1, phường P, Thành phố H, tỉnh Kiên Giang.

Nguyên đơn, bị đơn có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Tạ Xuân L trình bày: Vào khoảng 16 giờ đến 17 giờ ngày 15/8/2020, gia đình bà và gia đình chị T có mâu thuẫn, gây gổ qua lại với nhau, chị T cầm cây ra hù dọa và khiêu khích con gái bà là Nguyễn Khánh H đánh nhau. Chị T nắm tóc H rồi kéo ra đường đánh chảy máu miệng và mũi. Sau đó công an phường P mời các bên lên làm việc. Sau đó, H đi khám và điều trị, chi trả tiền thuốc và viện phí hết 1.961.000 đồng. Công an phường có mời hai bên lên hòa giải, bà yêu cầu chị T phải bồi thường tiền thuốc và viện phí tổng số tiền là 1.961.000 đồng nhưng chị T không đồng ý nên bà mới khởi kiện đến Tòa án. Nay bà yêu cầu chị T bồi thường thiệt hại chi phí điều trị cho Nguyễn Khánh H là 1.961.000 đồng, do chị T đánh H gây thương tích. Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn, bà không đồng ý bồi thường vì không xác định được tài sản bị mất là do ai gây ra.

Bị đơn chị Trần Ngọc Bích T trình bày: Vào ngày 14/8/2020, mẹ của chị là bà Trịnh Thị N và bà Tạ Xuân L có mâu thuẫn với nhau. Đến khoảng 16 giờ 30 phút ngày 15/8/2020, hai bên lại mâu thuẫn do bà L nghi ngờ bà Ny nói xấu bà L, bà L chửi bới bà N, hai bên có cự cải qua lại. Sau đó con gái bà L là chị Nguyễn Khánh H thách thức chị ra khỏi nhà đánh nhau với Hà, sau đó H xông đến túm tóc chị lôi kéo chị mới túm tóc H, cả hai giằng co nhau, đầu chị với đầu chị H va chạm vào nhau, sau đó được nhiều người căn ngăn. Sau khi được can ngăn thì chị nhìn thấy chị H bị chảy máu ở cằm, còn chị thì bị rớt mất một chiếc bông tai bên phải vàng 18 kara, khối lượng vàng 05 phân 01 ly vàng, chị và nhiều người khác tìm kiếm nhưng không thấy. Việc chị H bị thương tích và đi bệnh viện điều trị không phải do chị gây ra mà khi đó hai bên giằng co qua lại, đầu của cả hai đụng vào nhau hoàn toàn không phải lỗi của chị. Bà L cho rằng chị khiêu khích chị H đánh nhau là không có, H là người khiêu khích và túm tóc chị trước nên yêu cầu của bà L chị không đồng ý. Bản thân chị cũng bị thương tích nhưng đã tự điều trị và không có yêu cầu phía chị Hà bồi thường. Nếu bà L yêu cầu chị phải bồi thường thiệt hại do thương tích gây ra thì chị yêu cầu chị H phải bồi thường cho chị chiếc bông tai vàng bị mất, khối lượng vàng là 05 phân 01 ly vàng 18 kara theo giá thị trường.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Tiên phát biểu về việc tuân theo tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án. Về việc tuân theo tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, đương sự đều thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử. Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của các bên đương sự và quá trình tranh luận tại phiên tòa. Xét thấy, gia đình bà Tạ Xuân L và chị Trần Ngọc Bích T mâu thuẫn với nhau, chị T và chị H có đánh nhau, giằng co qua lại, chị H bị chảy máu mũi và miệng, việc chị H bị thương tích là do giằng co qua lại và người tham gia trực tiếp đánh nhau với chị Hà là chị T. Tuy nhiên lỗi là cả hai bên nên yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Khánh H về việc yêu cầu chị Trần Ngọc Bích T bồi thường tiền thiệt hại về tiền thuốc và chi phí nằm viện tổng số tiền là 1.961.000 đồng là có căn cứ chấp nhận một phần. Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn Trần Ngọc Bích T yêu cầu chị Nguyễn Khánh H bồi thường chiếc bông tai vàng 18 kara bị mất trong lúc đánh nhau, chị T không đưa ra được chứng cứ chứng minh trong quá trình đánh nhau chị H làm mất chiếc bông tai vàng của chị, do đó không có căn cứ chấp nhận. Buộc bị đơn bồi thường thiệt hại là 980.500 đồng và bác yêu cầu phản tố của bị đơn, buộc bị đơn chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, lời trình bày của bị đơn và căn cứ khoản 6 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 589 Bộ luật dân sự, vụ án có quan hệ pháp luật tranh chấp bồi thường thiệt hại về sức khỏe. Bị đơn Trần Ngọc Bích T cư trú tại khu phố 1, phường P, Thành phố H, tỉnh Kiên Giang nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang.

Về nội dung vụ án: Vào khoảng 16 giờ đến 17 giờ ngày 15/8/2020, gia đình chị Nguyễn Khánh H và gia đình chị Trần Ngọc Bích T có mâu thuẫn, gây gổ qua lại với nhau. Chị H và chị T đánh nhau, sau khi được can ngăn thì chị H bị chảy máu vùng mũi, miệng. Sự việc được công an phường Plập biên bản. Chị H đi khám và nhập viện điều trị, chi trả tiền thuốc và viện phí là 1.961.000 đồng. Công an phường có mời hai bên lên hòa giải, gia đình chị H yêu cầu chị T phải bồi thường tiền thuốc và viện phí tổng số tiền là 1.961.000 đồng nhưng chị T không đồng ý. Nay bà L yêu cầu chị T phải bồi thường thiệt hại chi phí nằm viện và tiền thuốc điều trị cho chị H do chị T đánh H gây thương tích. Theo Điều 584 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại: “1. Người nào có Hnh vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác. 2. Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác...”

Theo lời khai của những người làm chứng, xác định được quá trình xô xát giữa chị Hà và chị T không có bất cứ ai tham gia, cả hai người xông vào túm tóc giằng co qua lại thì đầu của cả hai va chạm vào nhau, khi tách hai người ra thì trên người chị Hà có thương tích, chị T có báo mất chiếc bông tai nhưng tìm không thấy. Trong quá trình xảy ra xô xát, đánh nhau không có hình ảnh ghi nhận lại toàn bộ sư việc trên, sau khi sự việc xảy ra cơ quan công an có lập biên bản, chị Hà có thương tích và đến điều trị tại bệnh viện đa khoa thành phố Hà Tiên. Do dó có căn cứ xác định thương tích của chị Hà là do quá trình xô xát với chị T dẫn đến mà có. Bản thân chị H và chị T đều có lỗi nên đây là lỗi hỗn hợp, vì vậy chị T chịu trách nhiệm bồi thường một phần (50% số tiền nguyên đơn yêu cầu). Bản thân chị T khai nhận có thương tích nhưng tự điều trị và không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không có căn cứ xem xét.

Về yêu cầu phản tố của chị Trần Ngọc Bích T, yêu cầu chị Nguyễn Khánh H bồi thường chiếc bông tai bị mất khi đánh nhau, tuy người làm chứng khai nhận có nhìn thấy trước khi chị T đánh nhau với chị Hà trên tai có đeo 02 chiếc bông, nhưng không xác định được khi hai người được can ngăn ra không còn đánh nhau nữa thì còn chiếc bông hay không, chỉ nghe chị T báo mất chiếc bông tai vàng. Tại phiên tòa chị T cũng không đưa ra được chứng cứ chứng minh chị bị mất chiếc bông tai vàng 18 kara là do chị H gây ra, bà L đại diện cho chị H cũng không đồng ý bồi thường theo yêu cầu của chị T, do đó yêu cầu của chị T không có căn cứ chấp nhận.

Từ những phân tích trên, xét thấy cần chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Khánh H đối với chị Trần Ngọc Bích T, buộc chị T bồi thường tiền thuốc và chi phí điều trị số tiền là 980.500 đồng (chín trăm tám mươi nghìn năm trăm dồng). Bác toàn bộ yêu cầu phản tố của chị Trần Ngọc Bích T đối với chị Nguyễn Khánh H về yêu cầu bồi thường chiếc bông tai vàng có khối lượng 05 phân 01 ly vàng 18 kara được chị T xác định tại thời điểm yêu cầu trị giá là 1.740.000 đồng (một triệu bảy trăm bốn mươi nghìn dồng).

Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với nghĩa vụ bồi thường và yêu cầu không được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 584, 585, 589, 590 Bộ luật dân sự; khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Khánh H đối với bị đơn chị Trần Ngọc Bích T, buộc chị T bồi thường thiệt hại sức khỏe là 980.500 đồng (chín trăm tám mươi nghìn năm trăm đồng).

2. Bác yêu cầu phản tố của bị đơn chị Trần Ngọc Bích T đối với nguyên đơn chị Nguyễn Khánh H về yêu cầu bồi thường thiệt hại tài sản bị mất là chiếc bông tai vàng có khối lượng 05 phân 01 ly vàng 18 kara, trị giá 1.740.000 đồng (một triệu bảy trăm bốn mươi nghìn dồng) .

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn chị Nguyễn Khánh H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, trả lại tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp cho chị H là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0009187 ngày 17/11/2020 của Chi cục Thi Hnh án dân sự Thành phố H Tiên, tỉnh Kiên Giang.

Bị đơn chị Trần Ngọc Bích T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm đối với nghĩa vụ bồi thường 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), yêu cầu phản tố không được chấp nhận số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0000352 ngày 05/01/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang, nay chị T phải nộp thêm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự; người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ