vanban.org

Bản án 19/2021/LĐ-ST — Tranh chấp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 01/12/2021 Lao động Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Phƣơng T đối với bị đơn Công ty TNHH Ph1 và bị đơn Công ty TNHH Ph về việc “Tranh chấp về bảo hiểm xã hội”:

1 Buộc Công ty TNHH Ph1 phải xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội của bà Trần Thị Phƣơng T từ tháng 6/2016 đến tháng 01/2018. 2 Buộc Công ty TNHH Ph phải xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội của bà Trần Thị Phƣơng T từ tháng 3/2018 đến tháng 5/2019 và trả sổ bảo hiểm xã hội cho bà Trần Thị Phƣ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp — án lao động — "Tranh chấp bảo hiểm xã hội"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Phƣơng T đối với bị đơn Công ty TNHH Ph1 và bị đơn Công ty TNHH Ph về việc “Tranh chấp về bảo hiểm xã hội”:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
——————————
Bản án số: 19/2021/LĐ-ST
Ngày 01-12-2021
V/v tranh chấp về bảo hiểm xã hội

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Nam

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thu Vân

2. Ông Nguyễn Văn Hoàn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Anh - Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Vƣơng - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Lao động thụ lý số: 48/2020/TLST-LĐ ngày 09 tháng 10 năm 2020 về việc “Tranh chấp bảo hiểm xã hội” theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 21/2021/QĐXXST-LĐ ngày 08 tháng 7 năm 2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 20/2021/QĐST-LĐ ngày 05 tháng 8 năm 2021, Thông báo mở lại phiên tòa số 49/2021/TB-TA ngày 15 tháng 10 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 40/2021/QĐST-LĐ ngày 04 tháng 11 năm 2021, giữa các đƣơng sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Phƣơng T, sinh năm 1985; thƣờng trú: Số 218A/12, ấp Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh L. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn:

1/ Công ty TNHH Ph; địa chỉ: Số 53/3 đƣờng K, khu phố T, phƣờng B, thành phố A, tỉnh D. Vắng mặt.

2/ Công ty TNHH Ph1; địa chỉ: Số 1191 T, Phƣờng 13, quận V, Thành phố M. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bảo hiểm xã hội thành phố A, tỉnh D, địa chỉ: Trung tâm hành chính thành phố A, tỉnh D.

Ngƣời đại diện hợp pháp: Ông Dƣơng Văn T; chức vụ: Nhân viên Bảo hiểm xã hội thành phố A; là ngƣời đại diện theo ủy quyền. Có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 28 tháng 9 năm 2020, đơn khởi kiện bổ sung ngày 26 tháng 10 năm 2020 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Trần Thị Phương T trình bày:

Bà làm việc tại Công ty TNHH Ph1 từ tháng 11/2011 với vị trí công nhân, có ký hợp đồng lao động với mức lƣơng cơ bản là 2.515.000 đồng/tháng và đƣợc tham gia bảo hiểm theo quy định của pháp luật. Quá trình làm việc các bên có ký với nhau nhiều hợp đồng xác định thời hạn, đến tháng 01/2016 thì ký hợp đồng không xác định thời hạn với mức lƣơng cơ bản là 3.745.000 đồng. Đến ngày 01/01/2017 các bên lại ký hợp đồng không xác định thời hạn với mức lƣơng đƣợc tăng lên 4.213.000 đồng/tháng nhƣng lần này công ty giữ lại hợp đồng mà không đƣa cho bà giữ bản nào. Công ty Ph1có trụ sở tại quận V, Thành phố M nhƣng bà Tlàm việc tại chi nhánh của công ty đặt tại khu phố Tân Thắng, phƣờng Tân Bình, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng và tham gia bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hội thành phố A. Đến tháng 01/2018, Công ty TNHH Ph thành lập và hoạt động ngay tại chi nhánh Công ty Phạm Tôn. Theo đề nghị của Công ty bà Tđã chấm dứt hợp đồng lao động với Công ty Ph1 và ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH Ph từ ngày 01/02/2018; mức lƣơng chính theo hợp đồng là 4.697.000 đồng/tháng. Bà T tiếp tục tham gia bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hội Dĩ An cho đến khi nghỉ việc ngày 15/6/2019. Sau khi chấm dứt hợp đồng lao động với Công ty Ph, cả Công ty Ph1và Công ty Ph chƣa đóng và chốt sổ bảo hiểm xã hội cho bà đầy đủ mặc dù hàng tháng các công ty đều trích từ tiền lƣơng của bà để đóng bảo hiểm.

Nay bà Tkhởi kiện yêu cầu Tòa án buộc Công ty TNHH Ph1 có trách nhiệm chốt sổ bảo hiểm xã hội cho bà Ttừ tháng 01/2016 đến tháng 01/2018 và buộc Công ty TNHH Ph chốt sổ bảo hiểm xã hội cho bà Ttừ tháng 02/2018 đến tháng 06/2019.

- Đối với bị đơn Công ty TNHH Ph1 và Công ty TNHH Ph:

Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt cho các bị đơn thông báo thụ lý vụ án, thông báo yêu cầu cung cấp chứng cứ, yêu cầu tham gia phiên họp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhƣng các bị đơn không đến Tòa án làm việc, không cung cấp lời khai, không có yêu cầu phản tố, không cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Nhƣ vậy, việc giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đƣợc xem xét trên cơ sở chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và các chứng cứ do Tòa án thu thập đƣợc trong quá trình giải quyết vụ án.

- Tại bản tự khai ngày 27/10/2020, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội thành phố A là ông Dương Văn T trình bày:

Công ty Ph1bắt đầu tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp tại BHXH thành phố A từ tháng 03/2011, tính đến tháng 9/2020 Công ty Ph1còn nợ số tiền 4.181.479.752 đồng, đã nộp tiền bảo hiểm xã hội đến hết tháng 5/2016. Công ty Ph1 tham gia bảo hiểm xã hội cho bà T từ 09/2013 đến tháng 01/2018 (chƣa chốt sổ bảo lƣu). Đối với yêu cầu khởi kiện của bà Thảo, đề nghị Công ty Ph1 có trách nhiệm đóng tiền và chốt sổ cho bà T từ tháng 06/2016 đến tháng 01/2018.

Công ty Ph bắt đầu tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp tại BHXH thành ph An từ tháng 02/2018, tính đến tháng 9/2020 Công ty Ph còn nợ số tiền 3.421.267.453 đồng, đã nộp tiền bảo hiểm xã hội tháng 02/2018. Công ty Ph tham gia bảo hiểm xã hội cho bà Ttừ tháng tháng 02/2018 đến tháng 05/2019. Đối với yêu cầu khởi kiện của bà Thảo, đề nghị Công ty Ph có trách nhiệm đóng tiền và chốt sổ cho bà Ttừ tháng 03/2018 đến tháng 5/2019 và trả sổ BHXH cho bà T theo quy định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố A, tỉnh D tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trƣớc thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thƣ ký phiên tòa và ngƣời tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự.

Nguyên đơn và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, các bị đơn đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ nhƣng vắng mặt nên căn cứ vào các Điều 227, 228 và 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là đúng quy định.

- Về nội dung vụ án: Theo hồ sơ bảo hiểm của Bảo hiểm xã hội thành phố A cung cấp thì Công ty TNHH Ph1 đã nộp tiền bảo hiểm xã hội đến hết tháng 5/2016, từ 06/2016 đến tháng 01/2018 Công ty TNHH Ph1 có tham gia nhƣng chƣa đóng bảo hiểm xã hội cho bà Thảo. Công ty Ph đã nộp tiền bảo hiểm xã hội tháng 02/2018, từ tháng 03/2018 đến tháng 05/2019 có tham gia nhƣng chƣa đóng bảo hiểm xã hội cho bà Thảo. Bà T yêu cầu Công ty TNHH Ph chốt sổ bảo hiểm cho bà tới tháng 06/2019 mà không cung cấp đƣợc quyết định cho nghỉ việc vào tháng 06/2019. Nhƣ vậy chỉ có căn cứ chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà T đối với việc yêu cầu Công ty TNHH Ph1 đóng tiền bảo hiểm xã hội từ 06/2016 đến tháng 01/2018 và Công ty Ph đóng tiền bảo hiểm từ tháng 03/2018 đến tháng 05/2019.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Tòa án nhận định:

1 Về thủ tục tố tụng:

Căn cứ vào, quan hệ lao động giữa nguyên đơn và bị đơn, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Tòa án xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp lao động, cụ thể là “Tranh chấp bảo hiểm xã hội”. Bị đơn Công ty TNHH Ph có trụ sở tại 53/3 khu phố T, phƣờng B, thành phố A, tỉnh D; đối với bị đơn Công ty TNHH Ph1 thì nguyên đơn lựa chọn Tòa án giải quyết nơi tổ chức có chi nhánh và nơi nguyên đơn làm việc tại 53/3 khu phố T, phƣờng B, thành phố A, tỉnh D nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An theo điểm d khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Các bị đơn Công ty TNHH Ph1 và Công ty TNHH Ph không có yêu cầu phản tố, đã đƣợc Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan; nguyên đơn và ngƣời đại diện theo ủy quyền của ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội Dĩ An có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 227, 228 và 238 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Về nội dung:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cung cấp thì có cơ sở xác định giữa nguyên đơn với bị đơn có quan hệ lao động với nhau. Quan hệ lao động giữa nguyên đơn và bị đơn trên tinh thần tự nguyện, không trái quy định của pháp luật nên có giá trị và hiệu lực thi hành. Quá trình làm việc nguyên đơn đƣợc bị đơn tham gia bảo hiểm xã hội và hàng tháng bị đơn vẫn trích tiền lƣơng của nguyên đơn để tham gia bảo hiểm xã hội.

Hết tháng 01/2018, bà Tchấm dứt hợp đồng lao động với Công ty TNHH Ph1 và đến tháng 5/2019, bà Tchấm dứt hợp đồng với Công ty TNHH Ph. Việc chấm đứt hợp đồng lao động là tự nguyện, tuy nhiên, Công ty TNHH Ph1 và Công ty TNHH Ph không hoàn tất thủ tục để chốt sổ bảo hiểm xã hội và trả sổ bảo hiểm xã hội cho bà Tlàm ảnh hƣởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà.

Việc đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc là trách nhiệm của ngƣời sử dụng lao động và ngƣời lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 19 và khoản 2 Điều 21 Luật Bảo hiểm xã hội. Theo lời trình bày của ngƣời đại diện hợp pháp của Bảo hiểm xã hội A xác nhận Công ty Ph1đã nộp tiền bảo hiểm xã hội cho đến hết tháng 5/2016; Công ty Ph tiếp tục tham gia bảo hiểm xã hội cho bà Ttừ tháng 02/2018 đến tháng 5/2019 (Công ty Ph đã nộp tiền bảo hiểm xã hội tháng 02/2018), thời gian còn lại bị đơn đang nợ tiền bảo hiểm xã hội nên chƣa thể chốt sổ bảo hiểm xã hội cho nguyên đơn theo quy định của pháp luật. Nhƣ vậy, việc các bị đơn đã trừ tiền lƣơng hàng tháng của nguyên đơn nhƣng không trích nộp tiền bảo hiểm xã hội, không chốt sổ bảo hiểm xã hội cho nguyên đơn là vi phạm đến quyền lợi, hợp pháp của nguyên đơn theo quy định tại khoản 5 Điều 21 và là hành vi bị nghiêm cấm quy định tại khoản 1 Điều 17 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014; khoản 2 và khoản 3 Điều 47 Bộ Luật lao động.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy rằng: Công ty TNHH Ph1 đã tham gia và nộp tiền bảo hiểm xã hội cho bà T đến hết tháng 5/2016, từ 06/2016 đến tháng 01/2018 Công ty TNHH Ph1 có tham gia nhƣng chƣa đóng bảo hiểm xã hội cho bà T. Công ty Ph đã nộp tiền bảo hiểm xã hội tháng 02/2018, từ tháng 03/2018 đến tháng 05/2019 có tham gia nhƣng chƣa đóng bảo hiểm xã hội cho bà T. Đối với yêu cầu đóng bảo hiểm tháng 06/2019 thì nguyên đơn không cung cấp đƣợc chứng cứ chứng minh đã nghỉ việc vào thời điểm tháng 6//2019 nên căn cứ vào hồ sơ bảo hiểm xác định nguyên đơn nghỉ việc vào tháng 05/2019. Nhƣ vậy chỉ có căn cứ chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Tđối với việc yêu cầu Công ty TNHH Ph1 đóng tiền bảo hiểm xã hội từ 06/2016 đến tháng 01/2018 và Công ty Ph đóng tiền bảo hiểm từ tháng 03/2018 đến tháng 05/2019.

Từ những phân tích trên có đủ sơ sở chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ý kiến đề xuất giải quyết vụ án của Kiểm sát viên là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật.

Về án phí: Nguyên đơn không phải chịu. Bị đơn Công ty TNHH Ph1 và Công ty TNHH Ph phải chịu án phí lao động sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 144, 147, 228, 235, 238, 244, 266, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ Điều 47 Bộ luật Lao động năm 2012; căn cứ Điều 19 và Điều 21 Luật Bảo hiểm xã hội; căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Phƣơng T đối với bị đơn Công ty TNHH Ph1 và bị đơn Công ty TNHH Ph về việc “Tranh chấp về bảo hiểm xã hội”:

1.1 Buộc Công ty TNHH Ph1 phải xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội của bà Trần Thị Phƣơng T từ tháng 6/2016 đến tháng 01/2018.

1.2 Buộc Công ty TNHH Ph phải xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội của bà Trần Thị Phƣơng T từ tháng 3/2018 đến tháng 5/2019 và trả sổ bảo hiểm xã hội cho bà Trần Thị Phƣơng T.

2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Phƣơng T về việc yêu cầu Công ty TNHH Ph1 có trách nhiệm chốt sổ bảo hiểm xã hội cho bà T từ tháng 01/2016 đến tháng 05/2016 và buộc Công ty TNHH Ph chốt sổ bảo hiểm xã hội cho bà Ttháng 06/2019.

3. Về án phí lao động sơ thẩm:

- Bà Trần Thị Phƣơng T không phải chịu.

- Công ty TNHH Ph1 phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

- Công ty TNHH Ph phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

4. Nguyên đơn, bị đơn và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết.

Trƣờng hợp bản án, quyết định đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ