vanban.org

Bản án 19/2021/HSST — Hình sự

TAND TX. Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 28/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Hải A phạm tội “ Cướp giật tài sản”

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hải A 15 ( mười lăm) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo ngày 27/5/2021. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố Tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hải A - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Hải A phạm tội “ Cướp giật tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ HỒNG LĨNH
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2021/ HSST
Ngày: 28/9/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HỒNG LĨNH- TỈNH HÀ TĨNH

Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thầm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Đức Quang

Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Bùi Xuân Cần

2. Ông Nguyễn Văn Hùng

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Phú Quý - Thư ký Tòa án

Đại diện VKSND thị xã Hồng Lĩnh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Đông - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 28 tháng 9 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 16/2021/TLST- HS ngày 12 tháng 8 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2021/QĐXXST- HS ngày 15 tháng 9 năm 2021 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Hải A; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam, sinh ngày 11 tháng 08 năm 1988 tại: xã T, huyện D, tỉnh A; nơi cư trú: Xóm 3, xã D, huyện D , tỉnh A; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Thanh N (đã chết); con bà Lê Thị L; vợ: Nguyễn Thị C; con: Có 4 con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2018; anh chị em ruột có 3 người, bị cáo là con thứ 3. Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 26/7/2017, Công an huyện Di, tỉnh A ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 195/QĐXPVPHC về hành vi “Đánh bạc” và bị phạt tiền 1.500.000 đồng. Ngày 28/7/2017, Nguyễn Hải A đã chấp hành xong số tiền trên.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/5/2021 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.

- Người bị hại:

1. Anh Lê Hữu H, sinh ngày 20 tháng 11 năm 1994; trú tại: Thôn T, xã Vĩnh Tú, huyện V, tỉnh Q. Nghề nghiệp: Lái xe tắc xi.Vắng mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Chị Nguyễn Thị C, sinh ngay 19 tháng 4 năm 1989; trú tại: Xóm 3, xã D, huyện D, tỉnh A; nghề nghiệp: Lao động tự do. Có mặt.

- Người làm chứng

1. Chị Mai Thị H, sinh ngày 11 tháng 04 năm 2000; trú tại: Số nhà 57, đường Ngô Q, phường 5, thành phố Đông H, tỉnh Quảng T. Vắng mặt.

2. Anh Đoàn Minh Đ, sinh năm 1993; trú tại: Số nhà 57, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Q. Vắng mặt.

3. Anh Bùi Công L sinh ngày 06 tháng 8 năm 1980; trú tại: Thôn H, xã T, thị xã H, tỉnh H. Vắng mặt

4. Anh Trần Đ, sinh ngày 20 tháng 10 năm 1973; trú tại: Số nhà 10, Ngõ 314 đường Q, tổ dân phố 7, phường Đ, thị xã H, tỉnh H. Vắng mặt.

5. Ông Trần Trọng B, sinh ngày 15 tháng 8 năm 1960; trú tại: Số nhà 18, Ngõ 28, đường đường L, tổ dân phố 5, phường N, thị xã H, tỉnh H. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Ngày 26/5/2021, sau khi Nguyễn Hải A, trú tại xóm 3, xã D, huyện D, tỉnh A vào chơi với bạn là anh Đoàn Minh Đ và chị Mai Thị H đều ở thành phố Đông H, tỉnh Quảng T. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, anh Đ và chị H chở A ra khu vực ngã ba Sa L thuộc xã V, huyện V, Quảng T thuê xe taxi chở A về tỉnh A nhưng Nguyễn Hải A không có tiền. Sau đó, Anh Đ và chị H gọi điện thoại cho chị Nguyễn Thị C, trú tại xóm 03, xã D, huyện Diễn C, tỉnh A (là vợ của A). Chị C nhờ anh Đ, chị H đứng ra thỏa thuận thuê xe taxi giúp A, về đến nhà chị C sẽ thanh toán tiền thuê xe. Sau đó anh Đ và chị H đến gặp anh Lê Hữu H, sinh năm 1994, trú tại thôn T xã Vĩnh T, huyện V, tỉnh Q là lái xe taxi biển kiểm soát 74A-123.17 đặt vấn đề thuê xe taxi đi về xã D, huyện D, tỉnh A với giá 2.800.000 đồng, về đến nhà chị Nguyễn Thị C sẽ thanh toán tiền. Anh Lê Hữu H đồng ý. Nguyễn Hải A không biết số tiền thuê xe giữa anh Lê Hữu H và vợ mình là Nguyễn Thị C là bao nhiêu tiền, chỉ biết về đến nhà thì chị C trả tiền. Sau khi Nguyễn Hải A lên xe ngồi ở ghế phụ phía trước bên phải xe thì chị H đưa điện thoại di động Iphone 11 Pro Max, màu xám của Nguyễn Hải A cho anh Lê Hữu H giữ để anh H tin tưởng chở A về, còn túi đồ quần áo, giấy tờ tùy thân của A được để trong cốp phía sau xe ô tô. Quá trình đi anh Lê Hữu H để điện thoại OPPO A92, màu đen của mình cùng điện thoại Iphone 11 Pro Max, màu xám của A tại khu vực cần số, điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 74A-132.17 chở Nguyễn Hải A từ xã V, huyện V, tỉnh Q theo đường Quốc lộ 1A đi ra tỉnh A.Quá trình đi trên xe Nguyễn Hải A ngồi ở ghế phụ phía trước, có một số lần mượn điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A92, màu đen của anh Lê Hữu H để ở khu vực cần số gọi điện thoại cho người khác, gọi xong A để điện thoại lại vị trí cũ. Đến khoảng 02 giờ 30 phút ngày 27/5/2021, khi đi đến khu vực ngã tư đường Bùi Cẩm Hổ thuộc tổ dân phố 04, phường Đ, thị xã H, tỉnh H, Nguyễn Hải A nói anh Lê Hữu H dừng xe lại bên đường để đi vệ sinh, sau khi đi vệ sinh xong A lên xe ngồi vào vị trí cũ và nảy sinh ý định chiếm đoạt điện thoại di động của anh Lê Hữu H. Khi anh H bắt đầu di chuyển xe ô tô theo đường Quốc lộ 1- BOT hướng ra Bắc thì bất ngờ Nguyễn Hải A cầm lấy điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A92, màu đen của anh H và điện thoại Iphone 11 Pro Max, màu xám của A đang để gần cần số rồi nhanh chóng mở cửa xe chạy bộ theo hướng ngã tư đường Bùi Cẩm Hổ, chạy được một đoạn A bị rơi dép, tiếp tục chạy rẽ vào đường Thái Kính về hướng Bắc. Lúc này, anh H mở cửa xe ô tô, chạy đuổi theo A và hô hoán nhưng không đuổi kịp nên đến Công an thị xã H trình báo. Đến khoảng 04 giờ cùng ngày,Công an thị xã Hồng Lĩnh phát hiện Nguyễn Hải A tại khu vực Ngõ 28, đường Lê Duẩn thuộc tổ dân phố 05, phường N, thị xã H, Hà T tiến hành bắt giữ và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A92 của anh H đã bị A đã chiếm đoạt cùng điện thoại Iphone 11 Pro Max, màu xám của A và yêu cầu Nguyễn Hải A về trụ sở cơ quan Công an để điều tra làm rõ.

Ngày 28/5/2021, Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã Hồng Lĩnh xác định: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A92 màu đen, số Imei1: 867511050646759, số Imei2: 867511050646742, đã qua sử dụng, trị giá tài sản thời điểm bị chiếm đoạt ngày 27/5/2021 là 3.500.000 đồng.

Bản cáo trạng số 17/CT-VKS-TXHL, ngày 11 tháng 8 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh truy tố bị cáo Nguyễn Hải A về tội “Cướp giật tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 171, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Hải A từ 12 tháng đến 15 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo ngày 27/5/2021.

Về hình bổ sung: Bị cáo Nguyễn Hải A không có việc làm, điều kiện kinh tế khó khăn nên không cần thiết áp dụng hình phạt tiền.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại anh Lê Hữu H đã nhận lại 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A92 và tiền bồi thường thiệt hại vỡ màn hình điện thoại số tiền 800.000 đồng; nhận tiền thuê xe taxi 2.000.000 đồng từ vợ của bị cáo là chị Nguyễn Thị C. Nay anh Lê Hữu H không có yêu cầu gì thêm về dân sự.

Còn người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị C, sau khi thanh toán số tiền 2.000.000 đồng thuê taxi và 800.000 đồng tiền bồi thường thiệt hại vỡ màn hình điện thoại cho anh Lê Hữu H. Nay chị Nguyễn Thị C không có yêu cầu gì về dân sự đối với Nguyễn Hải A nên miễn xét.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Trả lại 01 chứng minh nhân dân số 186752024 mang tên Nguyễn Hải A do Công an tỉnh A cấp ngày 01/3/2006; 01 Hộ chiếu số C8182216 mang tên Nguyễn Hải A do Cục quản lý xuất nhập cảnh - Bộ Công an cấp ngày 25/9/2019 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu xám, số Imei: 353902100410075 cho bị cáo Nguyễn Hải A.

Tịch thu tiêu huỷ 01 đôi dép màu đen, nhãn hiệu Versace, đã qua sử dụng là tài sản hợp pháp của Nguyễn Hải A. Quá trình điều tra Âu không có yêu cầu nhận lại và cũng không còn giá trị.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Cơ quan điều tra Công an và Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hồng Lĩnh trong quá trình nhận xử lý tin báo tội phạm, quá trình điều tra, truy tố, thu thập chứng cứ, tài liệu đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các chứng cứ tài liệu Điều tra viên, Kiểm sát viên thu thập là hợp pháp. Bị cáo, người bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nội dung: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Hải A trình bày: Khoảng hơn 21 giờ ngày 26 tháng 5 năm 2021 Nguyễn Hải A sau khi đón xe taxi được anh Lê Hữu H điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 74A- 132.17 từ xã V, huyện V, tỉnh Q về xã D, huyện D, tỉnh A với giá 2.800.000 đồng do vợ bị cáo Nguyễn Thị C thoả thuận với anh H khi về đến xã D, huyện D, tỉnh A thì chị C trả số tiền trên. Đến khoảng 02 giờ 30 phút ngày 27/5/2021, khi đến đường Quốc lộ 1- BOT thuộc tổ dân phố 04, phường Đ, thị xã H, tỉnh H, Nguyễn Hải A đang ngồi trong xe ô tô taxi biển kiểm soát 74A- 132.17 và đã mượn điện thoại OPPO A92 màu đen của anh H xuống xe đi vệ sinh và gọi điện, sau khi lên xe tắc xi và xe đang di chuyển chậm thì bị cáo cầm điện thoại của anh H mở cửa xe bỏ chạy, anh H hô cướp, cướp nhưng bị cáo vần tiếp tục bỏ chạy làm rơi dép trên đường với mục đích chiếm đoạt tài sản. Bị cáo không thừa nhận hành vi cướp giật tài sản mà thừa nhận chỉ mượn điện thoại rồi bỏ chạy để nhằm mục đích chiếm đoạt. Tại phiên toà bị cáo khai quá trình làm việc với Cơ quan điều tra không bị ép cung, nhục hình nên căn cứ vào lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra phù hợp với lời khai người bị hại, người làm chứng, vật chứng thu giữ và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án đủ cơ sở khẳng định: khoảng 02 giờ 30 phút ngày 27/5/2021, khi xe tắc xi chở bị cáo đến đường Quốc lộ 1- BOT thuộc tổ dân phố 04, phường Đậu Liêu, thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh, Nguyễn Hải A đang ngồi trong xe ô tô taxi biển kiểm soát 74A- 132.17 lợi dụng sơ hở của anh Lê Hữu H, bất ngờ, nhanh chóng chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A92, màu đen của anh Lê Hữu H trị giá 3.500.000 đồng rồi nhanh chóng mở cửa xe tẩu thoát nhằm mục đích sử dụng cho cá nhân. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hồng Lĩnh truy tố bị cáo Nguyễn Hải A về tội “ Cướp giật tài sản ” theo quy định khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự là hoàn toàn chính xác, đúng người, đúng tội, không oan sai.

Hội đồng xét xử thấy: Hành vi của Nguyễn Hải A là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, mà còn làm ảnh hưởng đến trật tự trị an trên địa bàn, tại phiên toà chưa thành khẩn khai báo và có nhân thân xấu về hành vi đánh bạc. Vì vậy cần xét xử bị cáo một mức án thật nghiêm tương xứng với hành vi, hậu quả mà bị cáo gây ra. Tuy nhiên cũng cần xét cho bị cáo không có tình tiết tăng nặng, đã tác động gia đình bồi thường đẩy đủ cho người bị hại và người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt, đồng thời có bố đẻ là ông Nguyễn Thanh N được nhà nước tặng thường Huy chương kháng chiến chống Mỹ, cứu nước hạng Nhì và được Ban chấp hành Trung ương Hội cựu chiến binh Việt Nam tặng kỹ niệm chương nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ này theo quy định tại điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

* Về hình bổ sung: [4] Bị cáo Nguyễn Hải A không có việc làm, điều kiện kinh tế khó khăn nên không cần thiết áp dụng hình phạt tiền.

* Về trách nhiệm dân sự: [5] Người bị hại anh Lê Hữu H đã nhận lại 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A92 và tiền bồi thường thiệt hại vỡ màn hình điện thoại số tiền 800.000 đồng; nhận tiền thuê xe taxi 2.000.000 đồng từ vợ của bị cáo là chị Nguyễn Thị C. Nay anh Lê Hữu H không có yêu cầu gì thêm về dân sự. Còn người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị C, sau khi thanh toán số tiền 2.000.000 đồng thuê taxi và 800.000 đồng tiền bồi thường thiệt hại vỡ màn hình điện thoại cho anh Lê Hữu H. Nay chị Nguyễn Thị C không có yêu cầu gì về dân sự đối với Nguyễn Hải A nên miễn xét.

* Về vật chứng vụ án: [6] 01 chứng minh nhân dân số 186752024; 01 Hộ chiếu số C8182216 đều mang tên Nguyễn Hải A và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu xám là tài sản hợp pháp của bị cáo Nguyễn Hải A không liên quân đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Còn 01 đôi dép màu đen, nhãn hiệu Versace, đã qua sử dụng là tài sản hợp pháp của Nguyễn Hải A nhưng bị cáo không yêu cầu nhận lại và cũng không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về án phí: [12] Bị cáo Nguyễn Hải A phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: 13] Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Hải A phạm tội “ Cướp giật tài sản”

Áp dụng khoản 1 Điều 171, điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hải A 15 ( mười lăm) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo ngày 27/5/2021.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố Tụng hình sự.

Trả lại 01 chứng minh nhân dân số 186752024 do Công an tỉnh N cấp ngày 01/3/2006; 01 Hộ chiếu số C8182216 do Cục quản lý xuất nhập cảnh - Bộ Công an cấp ngày 25/9/2019 đều mang tên Nguyễn Hải A và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu xám, số Imei: 353902100410075 cho bị cáo Nguyễn Hải A.

Tịch thu tiêu huỷ 01 đôi dép màu đen, nhãn hiệu Versace, không còn giá trị của bị cáo Nguyễn Hải A.

(Các vật chứng trên đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/08/2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố Tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử buộc: Bị cáo Nguyễn Hải A phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4.Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Hải A, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị C có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người bị hại anh Lê Hữu H vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ. Nơi nhận

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKS thị xã; tỉnh

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

- Tòa án tỉnh; Công an TXHL;

- Chi cục THA DS;

- Trại tạm giam;

- Bị cáo; người bị hại;

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

Phạm Đức Quang

- Lưu HS; ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THỊ XÃ HỒNG LĨNH

Độc lâp - Tự do - Hạnh phúc TỈNH HÀ TĨNH Bản án số: 19/2021/ HSST Ngày: 28/9/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HỒNG LĨNH- TỈNH HÀ TĨNH

Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thầm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Đức Quang

Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Bùi Xuân Cần

2. Ông Nguyễn Văn Hùng

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Phú Quý - Thư ký Tòa án

Đại diện VKSND thị xã Hồng Lĩnh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Đông - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 28 tháng 9 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 16/2021/TLST- HS ngày 12 tháng 8 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2021/QĐXXST- HS ngày 15 tháng 9 năm 2021 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Hải A; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam, sinh ngày 11 tháng 08 năm 1988 tại: xã T, huyện D, tỉnh A; nơi cư trú: Xóm 3, xã D, huyện D , tỉnh A; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Thanh N (đã chết); con bà Lê Thị L; vợ: Nguyễn Thị C; con: Có 4 con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2018; anh chị em ruột có 3 người, bị cáo là con thứ 3. Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 26/7/2017, Công an huyện Di, tỉnh A ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 195/QĐXPVPHC về hành vi “Đánh bạc” và bị phạt tiền 1.500.000 đồng. Ngày 28/7/2017, Nguyễn Hải A đã chấp hành xong số tiền trên.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/5/2021 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.

- Người bị hại:

1. Anh Lê Hữu H, sinh ngày 20 tháng 11 năm 1994; trú tại: Thôn T, xã Vĩnh Tú, huyện V, tỉnh Q. Nghề nghiệp: Lái xe tắc xi.Vắng mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Chị Nguyễn Thị C, sinh ngay 19 tháng 4 năm 1989; trú tại: Xóm 3, xã D, huyện D, tỉnh A; nghề nghiệp: Lao động tự do. Có mặt.

- Người làm chứng

1. Chị Mai Thị H, sinh ngày 11 tháng 04 năm 2000; trú tại: Số nhà 57, đường Ngô Q, phường 5, thành phố Đông H, tỉnh Quảng T. Vắng mặt.

2. Anh Đoàn Minh Đ, sinh năm 1993; trú tại: Số nhà 57, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Q. Vắng mặt.

3. Anh Bùi Công L sinh ngày 06 tháng 8 năm 1980; trú tại: Thôn H, xã T, thị xã H, tỉnh H. Vắng mặt

4. Anh Trần Đ, sinh ngày 20 tháng 10 năm 1973; trú tại: Số nhà 10, Ngõ 314 đường Q, tổ dân phố 7, phường Đ, thị xã H, tỉnh H. Vắng mặt.

5. Ông Trần Trọng B, sinh ngày 15 tháng 8 năm 1960; trú tại: Số nhà 18, Ngõ 28, đường đường L, tổ dân phố 5, phường N, thị xã H, tỉnh H. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Ngày 26/5/2021, sau khi Nguyễn Hải A, trú tại xóm 3, xã D, huyện D, tỉnh A vào chơi với bạn là anh Đoàn Minh Đ và chị Mai Thị H đều ở thành phố Đông H, tỉnh Quảng T. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, anh Đ và chị H chở A ra khu vực ngã ba Sa L thuộc xã V, huyện V, Quảng T thuê xe taxi chở A về tỉnh A nhưng Nguyễn Hải A không có tiền. Sau đó, Anh Đ và chị H gọi điện thoại cho chị Nguyễn Thị C, trú tại xóm 03, xã D, huyện Diễn C, tỉnh A (là vợ của A). Chị C nhờ anh Đ, chị H đứng ra thỏa thuận thuê xe taxi giúp A, về đến nhà chị C sẽ thanh toán tiền thuê xe. Sau đó anh Đ và chị H đến gặp anh Lê Hữu H, sinh năm 1994, trú tại thôn T xã Vĩnh T, huyện V, tỉnh Q là lái xe taxi biển kiểm soát 74A-123.17 đặt vấn đề thuê xe taxi đi về xã D, huyện D, tỉnh A với giá 2.800.000 đồng, về đến nhà chị Nguyễn Thị C sẽ thanh toán tiền. Anh Lê Hữu H đồng ý. Nguyễn Hải A không biết số tiền thuê xe giữa anh Lê Hữu H và vợ mình là Nguyễn Thị C là bao nhiêu tiền, chỉ biết về đến nhà thì chị C trả tiền. Sau khi Nguyễn Hải A lên xe ngồi ở ghế phụ phía trước bên phải xe thì chị H đưa điện thoại di động Iphone 11 Pro Max, màu xám của Nguyễn Hải A cho anh Lê Hữu H giữ để anh H tin tưởng chở A về, còn túi đồ quần áo, giấy tờ tùy thân của A được để trong cốp phía sau xe ô tô. Quá trình đi anh Lê Hữu H để điện thoại OPPO A92, màu đen của mình cùng điện thoại Iphone 11 Pro Max, màu xám của A tại khu vực cần số, điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 74A-132.17 chở Nguyễn Hải A từ xã V, huyện V, tỉnh Q theo đường Quốc lộ 1A đi ra tỉnh A.Quá trình đi trên xe Nguyễn Hải A ngồi ở ghế phụ phía trước, có một số lần mượn điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A92, màu đen của anh Lê Hữu H để ở khu vực cần số gọi điện thoại cho người khác, gọi xong A để điện thoại lại vị trí cũ. Đến khoảng 02 giờ 30 phút ngày 27/5/2021, khi đi đến khu vực ngã tư đường Bùi Cẩm Hổ thuộc tổ dân phố 04, phường Đ, thị xã H, tỉnh H, Nguyễn Hải A nói anh Lê Hữu H dừng xe lại bên đường để đi vệ sinh, sau khi đi vệ sinh xong A lên xe ngồi vào vị trí cũ và nảy sinh ý định chiếm đoạt điện thoại di động của anh Lê Hữu H. Khi anh H bắt đầu di chuyển xe ô tô theo đường Quốc lộ 1- BOT hướng ra Bắc thì bất ngờ Nguyễn Hải A cầm lấy điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A92, màu đen của anh H và điện thoại Iphone 11 Pro Max, màu xám của A đang để gần cần số rồi nhanh chóng mở cửa xe chạy bộ theo hướng ngã tư đường Bùi Cẩm Hổ, chạy được một đoạn A bị rơi dép, tiếp tục chạy rẽ vào đường Thái Kính về hướng Bắc. Lúc này, anh H mở cửa xe ô tô, chạy đuổi theo A và hô hoán nhưng không đuổi kịp nên đến Công an thị xã H trình báo. Đến khoảng 04 giờ cùng ngày,Công an thị xã Hồng Lĩnh phát hiện Nguyễn Hải A tại khu vực Ngõ 28, đường Lê Duẩn thuộc tổ dân phố 05, phường N, thị xã H, Hà T tiến hành bắt giữ và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A92 của anh H đã bị A đã chiếm đoạt cùng điện thoại Iphone 11 Pro Max, màu xám của A và yêu cầu Nguyễn Hải A về trụ sở cơ quan Công an để điều tra làm rõ.

Ngày 28/5/2021, Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã Hồng Lĩnh xác định: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A92 màu đen, số Imei1: 867511050646759, số Imei2: 867511050646742, đã qua sử dụng, trị giá tài sản thời điểm bị chiếm đoạt ngày 27/5/2021 là 3.500.000 đồng.

Bản cáo trạng số 17/CT-VKS-TXHL, ngày 11 tháng 8 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh truy tố bị cáo Nguyễn Hải A về tội “Cướp giật tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 171, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Hải A từ 12 tháng đến 15 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo ngày 27/5/2021.

Về hình bổ sung: Bị cáo Nguyễn Hải A không có việc làm, điều kiện kinh tế khó khăn nên không cần thiết áp dụng hình phạt tiền.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại anh Lê Hữu H đã nhận lại 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A92 và tiền bồi thường thiệt hại vỡ màn hình điện thoại số tiền 800.000 đồng; nhận tiền thuê xe taxi 2.000.000 đồng từ vợ của bị cáo là chị Nguyễn Thị C. Nay anh Lê Hữu H không có yêu cầu gì thêm về dân sự.

Còn người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị C, sau khi thanh toán số tiền 2.000.000 đồng thuê taxi và 800.000 đồng tiền bồi thường thiệt hại vỡ màn hình điện thoại cho anh Lê Hữu H. Nay chị Nguyễn Thị C không có yêu cầu gì về dân sự đối với Nguyễn Hải A nên miễn xét.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Trả lại 01 chứng minh nhân dân số 186752024 mang tên Nguyễn Hải A do Công an tỉnh A cấp ngày 01/3/2006; 01 Hộ chiếu số C8182216 mang tên Nguyễn Hải A do Cục quản lý xuất nhập cảnh - Bộ Công an cấp ngày 25/9/2019 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu xám, số Imei: 353902100410075 cho bị cáo Nguyễn Hải A.

Tịch thu tiêu huỷ 01 đôi dép màu đen, nhãn hiệu Versace, đã qua sử dụng là tài sản hợp pháp của Nguyễn Hải A. Quá trình điều tra Âu không có yêu cầu nhận lại và cũng không còn giá trị.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Cơ quan điều tra Công an và Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hồng Lĩnh trong quá trình nhận xử lý tin báo tội phạm, quá trình điều tra, truy tố, thu thập chứng cứ, tài liệu đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các chứng cứ tài liệu Điều tra viên, Kiểm sát viên thu thập là hợp pháp. Bị cáo, người bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nội dung: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Hải A trình bày: Khoảng hơn 21 giờ ngày 26 tháng 5 năm 2021 Nguyễn Hải A sau khi đón xe taxi được anh Lê Hữu H điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 74A- 132.17 từ xã V, huyện V, tỉnh Q về xã D, huyện D, tỉnh A với giá 2.800.000 đồng do vợ bị cáo Nguyễn Thị C thoả thuận với anh H khi về đến xã D, huyện D, tỉnh A thì chị C trả số tiền trên. Đến khoảng 02 giờ 30 phút ngày 27/5/2021, khi đến đường Quốc lộ 1- BOT thuộc tổ dân phố 04, phường Đ, thị xã H, tỉnh H, Nguyễn Hải A đang ngồi trong xe ô tô taxi biển kiểm soát 74A- 132.17 và đã mượn điện thoại OPPO A92 màu đen của anh H xuống xe đi vệ sinh và gọi điện, sau khi lên xe tắc xi và xe đang di chuyển chậm thì bị cáo cầm điện thoại của anh H mở cửa xe bỏ chạy, anh H hô cướp, cướp nhưng bị cáo vần tiếp tục bỏ chạy làm rơi dép trên đường với mục đích chiếm đoạt tài sản. Bị cáo không thừa nhận hành vi cướp giật tài sản mà thừa nhận chỉ mượn điện thoại rồi bỏ chạy để nhằm mục đích chiếm đoạt. Tại phiên toà bị cáo khai quá trình làm việc với Cơ quan điều tra không bị ép cung, nhục hình nên căn cứ vào lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra phù hợp với lời khai người bị hại, người làm chứng, vật chứng thu giữ và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án đủ cơ sở khẳng định: khoảng 02 giờ 30 phút ngày 27/5/2021, khi xe tắc xi chở bị cáo đến đường Quốc lộ 1- BOT thuộc tổ dân phố 04, phường Đậu Liêu, thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh, Nguyễn Hải A đang ngồi trong xe ô tô taxi biển kiểm soát 74A- 132.17 lợi dụng sơ hở của anh Lê Hữu H, bất ngờ, nhanh chóng chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A92, màu đen của anh Lê Hữu H trị giá 3.500.000 đồng rồi nhanh chóng mở cửa xe tẩu thoát nhằm mục đích sử dụng cho cá nhân. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hồng Lĩnh truy tố bị cáo Nguyễn Hải A về tội “ Cướp giật tài sản ” theo quy định khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự là hoàn toàn chính xác, đúng người, đúng tội, không oan sai.

Hội đồng xét xử thấy: Hành vi của Nguyễn Hải A là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, mà còn làm ảnh hưởng đến trật tự trị an trên địa bàn, tại phiên toà chưa thành khẩn khai báo và có nhân thân xấu về hành vi đánh bạc. Vì vậy cần xét xử bị cáo một mức án thật nghiêm tương xứng với hành vi, hậu quả mà bị cáo gây ra. Tuy nhiên cũng cần xét cho bị cáo không có tình tiết tăng nặng, đã tác động gia đình bồi thường đẩy đủ cho người bị hại và người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt, đồng thời có bố đẻ là ông Nguyễn Thanh N được nhà nước tặng thường Huy chương kháng chiến chống Mỹ, cứu nước hạng Nhì và được Ban chấp hành Trung ương Hội cựu chiến binh Việt Nam tặng kỹ niệm chương nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ này theo quy định tại điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

* Về hình bổ sung: [4] Bị cáo Nguyễn Hải A không có việc làm, điều kiện kinh tế khó khăn nên không cần thiết áp dụng hình phạt tiền.

* Về trách nhiệm dân sự: [5] Người bị hại anh Lê Hữu H đã nhận lại 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A92 và tiền bồi thường thiệt hại vỡ màn hình điện thoại số tiền 800.000 đồng; nhận tiền thuê xe taxi 2.000.000 đồng từ vợ của bị cáo là chị Nguyễn Thị C. Nay anh Lê Hữu H không có yêu cầu gì thêm về dân sự. Còn người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị C, sau khi thanh toán số tiền 2.000.000 đồng thuê taxi và 800.000 đồng tiền bồi thường thiệt hại vỡ màn hình điện thoại cho anh Lê Hữu H. Nay chị Nguyễn Thị C không có yêu cầu gì về dân sự đối với Nguyễn Hải A nên miễn xét.

* Về vật chứng vụ án: [6] 01 chứng minh nhân dân số 186752024; 01 Hộ chiếu số C8182216 đều mang tên Nguyễn Hải A và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu xám là tài sản hợp pháp của bị cáo Nguyễn Hải A không liên quân đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Còn 01 đôi dép màu đen, nhãn hiệu Versace, đã qua sử dụng là tài sản hợp pháp của Nguyễn Hải A nhưng bị cáo không yêu cầu nhận lại và cũng không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về án phí: [12] Bị cáo Nguyễn Hải A phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: 13] Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Hải A phạm tội “ Cướp giật tài sản”

Áp dụng khoản 1 Điều 171, điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hải A 15 ( mười lăm) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo ngày 27/5/2021.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố Tụng hình sự.

Trả lại 01 chứng minh nhân dân số 186752024 do Công an tỉnh N cấp ngày 01/3/2006; 01 Hộ chiếu số C8182216 do Cục quản lý xuất nhập cảnh - Bộ Công an cấp ngày 25/9/2019 đều mang tên Nguyễn Hải A và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu xám, số Imei: 353902100410075 cho bị cáo Nguyễn Hải A.

Tịch thu tiêu huỷ 01 đôi dép màu đen, nhãn hiệu Versace, không còn giá trị của bị cáo Nguyễn Hải A.

(Các vật chứng trên đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/08/2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố Tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử buộc: Bị cáo Nguyễn Hải A phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4.Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Hải A, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị C có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người bị hại anh Lê Hữu H vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ