- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Võ Thành N và Phạm Thị H Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Võ Thành N.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU Bản án số: 19/2021/HNGĐ-ST Ngày 08-4-2021 V/v tranh chấp “Ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Hữu Trí.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thủy và ông Nguyễn Bá Lộc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Long – Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 4 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 485/2020/TLST-HNGĐ ngày 08/12/2020, về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 24/02/2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2021/QĐST-HNGĐ ngày 22/3/2021, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Võ Thành N, sinh năm 1977 (vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Bị đơn: Bà Phạm Thị H, sinh năm 1976 (vắng mặt không có lý do).
Địa chỉ: khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản không hòa giải được tại tòa, nguyên đơn ông Võ Thành N trình bày:
Ông Võ Thành N và bà Phạm Thị H tự nguyện chung sống vợ chồng với nhau từ năm 2003, có đăng ký kết hôn, tổ chức đám cưới. Đến đầu năm 2019 vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do tài chính trong gia đình khó khăn nên vợ chồng hay cãi nhau. Hiện nay, mặc dù vợ chồng vẫn sống cùng nhà nhưng đã sống ly thân, mặc ai nấy sống, không ai quan tâm đến ai. Vợ chồng có nói chuyện hàn gắn tình cảm nhưng không được. Nay ông N nhận thấy không còn tình cảm, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau và không thể chung sống với bà H được nữa. Vì vậy ông N yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với bà H.
Về con chung: Ông N và bà H có 02 con chung là Võ Phạm Yến Nhi, sinh ngày 17/3/2005 và Võ Phạm Yến Như, sinh ngày 31/12/2011. Ông N yêu cầu được nuôi cả 2 cháu cho đến khi đủ 18 tuổi và không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về ý kiến của bị đơn bà Phạm Thị H: Trong quá trình tố tụng bà H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và không có ý kiến gì.
- Theo Biên bản xác minh ngày 16/12/2020 của Tòa án nhân dân huyện Long Điền có nội dung như sau: Bà Phạm Thị H, sinh năm 1976 có hộ khẩu thường trú tại Tổ 3/10, khu phố Hải Sơn, thị trấn Long Hải, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và bà H vẫn đang sinh sống tại địa chỉ này. Ông N đã về nhà cha mẹ ruột sinh sống nên vợ chồng ông N, bà H không còn sống chung với nhau. Lý do mâu thuẫn vợ chồng thì khu phố không rõ.
- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng. Bị đơn chưa thực hiện đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng.
Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông N. Về con chung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của ông N, giao 02 con chung là Võ Phạm Yến Nhi, sinh ngày 17/3/2005 và Võ Phạm Yến Như, sinh ngày 31/12/2011 cho ông N trực tiếp nuôi dưỡng và bà H không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Ông N và bà H không yêu cầu giải quyết nên không xét đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng và quan hệ tranh chấp: Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Ông N và bà H tự nguyện chung sống, đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn: Xét thấy, sự mâu thuẫn trong quan hệ vợ chồng giữa ông N, bà H là có thật, vợ chồng không có sự đồng cảm, quan tâm, chia sẻ buồn vui cùng nhau, hiện nay vợ chồng đã sống ly thân, mặc ai nấy sống, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Như vậy, quan hệ hôn nhân của ông N, bà H là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông N.
Về con chung: Ông N xác nhận có 02 con chung là Võ Phạm Yến Nhi, sinh ngày 17/3/2005 và Võ Phạm Yến Như, sinh ngày 31/12/2011. Ông N yêu cầu được trực tiếp nuôi cả 2 cháu và không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy cả 2 cháu Nhi và Như có nguyện vọng ở với ông N, mặt khác bà H không đến Tòa án giải quyết việc ly hôn với ông N nên không biết nguyện vọng của ông N, nên chấp nhận yêu cầu của ông N, giao 2 cháu Nhi và Như cho ông N trực tiếp nuôi dưỡng. Ông N không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông N và bà H không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Ông N phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 227 và 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51; 56, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Võ Thành N.
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Võ Thành N được ly hôn bà Phạm Thị H.
- Về con chung: Ông N, bà H có 02 con chung là Võ Phạm Yến Nhi, sinh ngày 17/3/2005 và Võ Phạm Yến Như, sinh ngày 31/12/2011. Giao cả 2 con chung cho ông N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 (mười tám) tuổi. Bà H không phải cấp dưỡng nuôi con do ông N không yêu cầu.
Bà Phạm Thị H được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung và nợ chung: Ông N và bà H không yêu cầu giải quyết nên không xét đến.
2. Án phí: Áp dụng Nghị Quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án: Ông Võ Thành N phải nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 04337 ngày 02/12/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Điền, ông N đã nộp xong.
3. Quyền kháng cáo: Trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (08/4/2021) đương sự có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thủy Nguyễn Bá Lộc
Đỗ Hữu Trí
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh BR-VT; - VKSND huyện Long Điền; - THADS huyện Long Điền; - Các đương sự; - UBND thị trấn Long Hải, huyện Long Điền; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Hữu Trí |