vanban.org

Bản án 19/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 20/01/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a, i khoản 1 Điều 134, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố các bị cáo Phạm Văn H, Trƣơng Minh B phạm tội “Cố ý gây thƣơng tích”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn H và đồng phạm - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
  • Tòa quyết gì? Điểm a, i khoản 1 Điều 134, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • Căn cứ chính? Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 58 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ T

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 19/2021/HS-ST
Ngày: 20/01/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Ánh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Lê Thị Thiện.

2/ Bà Nguyễn Kim Hoa.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Tấn, Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hƣơng - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 332/2020/TLST- HS ngày 12 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 398/2020/TLST- HS ngày 22 tháng 12 năm 2020 đối với các bị cáo:

1. Phạm Văn H, sinh năm 1996 tại tỉnh An Giang; nơi cƣ trú: Ấp C, xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn D, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị Ánh H, sinh năm 1972; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 29/8/2020 cho đến nay. Có mặt.

2. Trƣơng Minh B, sinh năm 1999 tại tỉnh Đồng Tháp; nơi cƣ trú: Ấp V, xã T, huyện P, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trƣơng T Q, sinh năm 1970 và bà Văng Thị Hoàng N, sinh năm 1972; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 29/8/2020 cho đến nay, (có mặt).

- Bị hại: Ông Lê Văn C, sinh năm 1987; nơi cƣ trú: Ấp T, xã L, huyện B, tỉnh An Giang, (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Huỳnh Thị K, sinh năm 1987; nơi cƣ trú: khu phố A, phƣờng T, Quận Đ, Thành phố Hồ Chí Minh, (có yêu cầu giải quyết vắng mặt).

- Người làm chứng:

- Ông Lê Văn T, (có mặt).

- Bà Nguyễn Thị Ngọc T, (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Phạm Văn H trƣớc đây cùng làm công nhân chung với Lê Văn C tại Công ty TNHH W thuộc khu phố B, phƣờng A, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng. Trong thời gian làm việc chung H và C có xảy ra mâu thuẫn trong công việc, thời gian sau thì H bị công ty cho nghỉ việc.

Vào khoảng 13 giờ 00 phút ngày 16/4/2020, Phạm Văn H cùng với Trƣơng Minh B tổ chức ăn uống tại phòng trọ của H thuộc khu phố H, phƣờng G, thành phố T. Tại đây, H kể lại cho B nghe sự việc giữa H và Lê Văn C có mâu thuẫn với nhau ở công ty rồi rủ B đi tìm C để đánh thì B đồng ý. B đã liên hệ với một ngƣời thanh niên tên T (không rõ lai lịch) mƣợn 02 con dao tự chế để đi tìm C. Sau đó, H điều khiển xe mô tô kiểu dáng Sirius màu xám, biển số 61U3-0125 mƣợn của một ngƣời bạn tên L (không rõ lai lịch) chở B đến gần nhà hàng H thuộc đƣờng T, khu phố B, phƣờng G, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng gặp T. Khi đến nơi thì T đƣa cho B 02 con dao tự chế và B cầm dao để trên yên xe khoảng giữa B và H ngồi rồi H điều khiển xe chở B quay về phòng trọ chờ. Đến khoảng 16 giờ 15 phút cùng ngày, H điều khiển xe mô tô chở B, mỗi ngƣời mang theo một con dao tự chế giấu trong áo khoác chạy đến Công ty nơi Lê Văn C đang làm việc. Khi đến đoạn ngã ba giao nhau giữa đƣờng A và đƣờng T hƣớng vào đƣờng A khoảng 12m thì H dừng xe lại và nhìn thấy C đang điều khiển xe mô tô chở vợ là bà Nguyễn Thị Ngọc T chạy từ công ty ra hƣớng đƣờng T. Nhìn thấy C, H xuống xe lấy dao ra cầm trên tay chạy lại chém vào cánh tay trái của C gây thƣơng tích, bị chém bị hại C bỏ xe chạy bộ ra đƣờng Lê Thị T thì B tiếp tục cầm dao đuổi theo chém nhƣng không đuổi kịp nên B cầm dao quay lại lên xe H chở bỏ đi, cả hai chạy đến trả dao cho T rồi cùng bỏ trốn, bị hại C đƣợc ngƣời dân đƣa đi bệnh viện điều trị. Đến ngày 29/8/2020 Cơ quan điều tra đã bắt đƣợc Phạm Văn H, Trƣơng Minh B.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thƣơng tích số 233/2020/GĐPY ngày 11/6/2020 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Bình Dƣơng kết luận: Tỷ lệ thƣơng tích của bị hại Lê Văn C là 06%, gồm các vết thƣơng: 02 vết thƣơng mặt sau ngoài cẳng tay trái 10,3 x 0,1 cm và 9 x 0,3 cm, đứt cơ duỗi cổ tay trụ, cơ duỗi các ngón, gân cơ duỗi ngón III, IV, V. Cơ chế hình thành vết thƣơng: 1/3 dƣới mặt sau ngoài cẳng tay trái, sẹo hình cung, chiều nằm ngang, hƣớng từ sau ra trƣớc, bờ sắc nhọn, khả năng do vật sắc gây ra; 1/3 vết thƣơng giữa mặt sau ngoài cẳng tay trái, chiều từ trên xuống, hƣớng từ sau ra trƣớc, bờ sắc nhọn, khả năng do vật sắc gây ra.

Bản Cáo trạng số 346/CT-VKS -TA ngày 11/11/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố các bị cáo Phạm Văn H, Trƣơng Minh B về tội “Cố ý gây thƣơng tích” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

- Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và xác định: Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng nên đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Kiểm sát viên đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Văn H mức án từ 12 (mƣời hai) tháng đến 15 (mƣời lăm) tháng tù; xử phạt bị cáo Trƣơng Minh B mức án từ 09 (chín) tháng đến 12 (mƣời hai) tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa các bị cáo tự nguyện nhận trách nhiệm bồi thƣờng cho bị hại số tiền 60.000.000 đồng, mỗi bị cáo bồi thƣờng số tiền 30.000.000 đồng nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận giữa các bị cáo và bị hại.

Về xử lý vật chứng: Đối với vật chứng là 02 con dao tự chế mà các bị cáo B, H sử dụng để gây thƣơng tích cho bị hại, các bị cáo đã trả lại cho đối tƣợng T, không thu hồi đƣợc nên không đề nghị xem xét.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Sirius, màu đen bạc, biển số 61U3-0125 do các bị cáo H, B sử dụng làm phƣơng tiện đi gây thƣơng tích cho bị hại C. Quá trình điều tra xác định xe trên do bà Huỳnh Thị K đứng tên chủ sở hữu, bà K khai đã bán lại cho một ngƣời (không rõ lai lịch) sử dụng, khi bán không làm thủ tục sang tên chủ sở hữu, bà K không có yêu cầu gì đối với xe mô tô trên. H khai nhận mƣợn xe mô tô biển số 61U3-0125 của một ngƣời bạn tên L (không rõ lai lịch) để sử dụng, sau khi gây thƣơng tích cho bị hại C, H đã đem xe về trả lại cho L, hiện nay L ở đâu H không biết, do đó Cơ quan điều tra không có cơ sở để xử lý đối với xe mô tô trên, nên tiếp tục xác minh, xử lý sau.

Đối với đối tƣợng tên T (không rõ lai lịch) là ngƣời đã cho B và H mƣợn hung khí để gây thƣơng tích cho bị hại C, quá trình điều tra không xác định đƣợc nhân thân, lai lịch. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại nơi bị cáo B và H mƣợn hung khí của T thuộc khu phố Bình Thuận 2, phƣờng Thuận Giao, thành phố T nhƣng không có ai là ngƣời tên T nhƣ các bị cáo khai nhận.

- Các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thống nhất tội danh, khung hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng, tự nguyện nhận có trách nhiệm bồi thƣờng cho bị hại số tiền bị hại yêu cầu 60.000.000 đồng, trong đó mỗi bị cáo chịu ½ số tiền bồi thƣờng, không có ý kiến tranh luận gì thêm, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, xin lỗi bị hại và xin đƣợc giảm nhẹ hình phạt.

- Bị hại C trình bày nội dung sự việc nhƣ nội dung bản cáo trạng đã truy tố, bị hại yêu cầu các bị cáo có trách nhiệm liên đới bồi thƣờng tiền thuốc men chữa trị vết thƣơng, tiền thu nhập bị mất do không đi làm đƣợc (tƣơng đƣơng 02 tháng lƣơng), tiền tổn thất tinh thần, tổng cộng số tiền 60.000.000 đồng. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt các bị cáo theo quy định, không có ý kiến tranh luận gì.

- Ngƣời làm chứng Lê Văn T trình bày: Thiện là anh trai của bị hại Lê Văn C, vào chiều ngày 16/4/2020 ông T đƣợc một ngƣời bạn điện thoại báo tin C bị chém, khi T từ công ty chạy ra thấy C đang bị một ngƣời thanh niên tên B cầm dao rƣợt đuổi một đoạn rồi quay lại lên xe do H chờ sẵn chở đi.

- Ngƣời làm chứng Nguyễn Thị Ngọc T trình bày: T là vợ của bị hại Lê Văn C, vào chiều ngày 16/4/2020 T và C đang trên đƣờng đi làm về, C chở T ngồi phía sau. Khi đến đoạn đƣờng giao nhau với đƣờng Lê Thị T thì C bất ngờ bỏ xe chạy bộ ra hƣớng Lê Thị Trung, phía sau có một ngƣời thanh niên trên tay cầm dao tự chế chạy bộ đuổi theo C và có một ngƣời thanh niên tên H điều khiển xe mô tô kiểu dáng Sirius màu đen chạy phía sau không rõ cầm vật gì không. Khi C chạy ra đến đƣờng Lê Thị T do có nhiều ngƣời dân ra nên ngƣời thanh niên cầm dao rƣợt C lên xe của H đang điều khiển phía sau chạy đi mất. Tại thời điểm C bị chém thì T không nhìn thấy vì ngồi phía sau ôm thùng hàng mắt chỉ quan sát hƣớng lề đƣờng theo chiều đi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của những ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Tại phiên tòa, lời khai nhận tội của các bị cáo Phạm Văn H, Trƣơng Minh B phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan Điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Dựa vào lời khai của các bị cáo, Bản kết luận giám định pháp y về thƣơng tích số 233/2020/GĐPY ngày 11/6/2020 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Bình Dƣơng, lời khai của bị hại, của ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, ngƣời làm chứng, kết quả thực nghiệm điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 16/4/2020 tại đoạn ngã ba giao nhau giữa đƣờng A và đƣờng Lê Thị T, phƣờng P, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng, bị cáo Phạm Văn H cùng bị cáo Trƣơng Minh B dùng dao tự chế chém vào tay trái của bị hại Lê Văn C gây thƣơng tích với tỷ lệ 06%, gồm các vết thƣơng: 02 vết thƣơng mặt sau ngoài cẳng tay trái 10,3 x 0,1 cm và 9 x 0,3 cm, đứt cơ duỗi cổ tay trụ, cơ duỗi các ngón, gân cơ duỗi ngón III, IV, V. Cơ chế hình thành vết thƣơng: 1/3 dƣới mặt sau ngoài cẳng tay trái, sẹo hình cung, chiều nằm ngang, hƣớng từ sau ra trƣớc, bờ sắc nhọn; 1/3 vết thƣơng giữa mặt sau ngoài cẳng tay trái, chiều từ trên xuống, hƣớng từ sau ra trƣớc, bờ sắc nhọn.

Giữa bị cáo H và bị hại C tuy có mâu thuẫn từ trƣớc nhƣng chỉ là mâu thuẫn nhỏ trong quá trình còn làm việc chung công ty, H đã nghỉ việc đƣợc một thời gian nhƣng lại quay lại dùng dao tự chế gây thƣơng tích cho C. Trƣơng Minh B và C không có mâu thuẫn gì nhƣng B đã đồng ý với H đi tìm C để gây thƣơng tích, B tích cực đi mƣợn dao tự chế và cùng H đến gây thƣơng tích cho C với hai vết thƣơng nhƣ trên. Hành vi của các bị cáo Phạm Văn H, Trƣơng Minh B đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thƣơng tích” theo các điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Trong vụ án này, bị cáo Phạm Văn H là ngƣời trực tiếp gây thƣơng tích cho bị hại C, bị cáo Trƣơng Minh B là ngƣời giúp sức cho H.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố T đã truy tố các bị cáo Phạm Văn H, Trƣơng Minh B về tội “Cố ý gây thƣơng tích” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo là ngƣời có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức đƣợc việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhƣng vẫn cố tình thực hiện. Bị cáo H chỉ vì mâu thuẫn nhỏ, cho rằng vì C mà H bị công ty cho nghỉ việc rồi lấy đó làm cớ đi chém gây ra thƣơng tích cho bị hại C. Bị cáo B không có mâu thuẫn gì với C nhƣng B đã đồng ý với H đi tìm C để gây thƣơng tích, B đã tích cực đi mƣợn hung khí là dao tự chế, cùng H đi tìm C, sau khi H chém C xong, bị hại C đã bị thƣơng tích và phản ứng B cách bỏ chạy thì B lại có hành vi cầm dao tự chế đuổi theo định chém C thêm. Thời điểm các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội là giờ tan ca, đông ngƣời qua lại nhƣng các bị cáo vẫn ngang nhiên thực hiện. Hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của ngƣời khác, gây mất an ninh, trật tự tại địa phƣơng, thể hiện tính chất côn đồ, coi thƣờng pháp luật. Do đó cần xử phạt các bị cáo với mức án nghiêm tƣơng xứng tính chất, hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng cho các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Trong vụ án có vai trò đồng phạm nhƣng là đồng phạm giản đơn. Các bị cáo có sự bàn bạc, chuẩn bị dụng cụ nhƣng không có sự phân công cụ thể. Bị cáo B là ngƣời mƣợn hung khí, bị cáo H là trực tiếp gây thƣơng tích cho bị hại, điều đó thể hiện bản chất của bị cáo H nguy hiểm cho xã hội cao hơn bị cáo B nên phải chịu mức án cao hơn.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng là tình tiết giảm nhẹ theo điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Mức đề nghị hình phạt của Kiểm sát viên đối với các bị cáo là phù hợp với hành vi của các bị cáo đã thực hiện.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu các bị cáo bồi thƣờng tiền thuốc men chữa trị vết thƣơng, tiền thu nhập bị mất do không đi làm đƣợc (tƣơng đƣơng 02 tháng lƣơng), tiền tổn thất tinh thần, tổng cộng số tiền 60.000.000 đồng, các bị cáo đồng ý bồi thƣờng số tiền trên, trong đó mỗi bị cáo chịu 1/2 nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về xử lý vật chứng: Đối với 02 con dao tự chế là hung khí mà các bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, sau khi phạm tội các bị cáo đã trả lại cho đối tƣợng T, không thu hồi đƣợc nên không đặt ra xem xét.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Sirius, màu đen bạc, biển số 61U3-0125 do các bị cáo H, B sử dụng làm phƣơng tiện đi gây thƣơng tích cho bị hại C. Quá trình điều tra xác định xe mô tô trên do bà Huỳnh Thị K đứng tên chủ sở hữu, bà K khai đã bán lại cho một ngƣời (không rõ lai lịch) sử dụng, khi bán không làm thủ tục sang tên chủ sở hữu, bà K không có yêu cầu gì đối với xe mô tô trên. H khai nhận mƣợn xe mô tô biển số 61U3-0125 của một ngƣời bạn tên L (không rõ lai lịch) để sử dụng, sau khi gây thƣơng tích cho bị hại C, H đã đem xe về trả lại cho L, hiện nay L ở đâu H không biết, do đó Cơ quan điều tra không có cơ sở để xử lý đối với xe mô tô trên nên tiếp tục xác minh, xử lý sau là có cơ sở.

Đối với đối tƣợng tên T hiện chƣa xác định đƣợc nhân thân, lai lịch nên sẽ xử lý ở một vụ án khác khi có căn cứ.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Điểm a, i khoản 1 Điều 134, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;

Các Điều 288, 584, 585, 586, 587 và 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố các bị cáo Phạm Văn H, Trƣơng Minh B phạm tội “Cố ý gây thƣơng tích”.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/8/2020.

Xử phạt bị cáo Trƣơng Minh B 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/8/2020.

2. Về trách nhiệm dân sự:

Ghi nhận sự tự nguyện của các bị cáo Phạm Văn H, Trƣơng Minh B liên đới bồi thƣờng cho bị hại ông Lê Văn C số tiền 60.000.000 đồng (Sáu mƣơi triệu đồng), trong đó phần của mỗi bị cáo là 30.000.000 đồng (Ba mƣơi triệu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trƣờng hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ngƣời đƣợc thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho ngƣời đƣợc thi hành án) cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trƣờng hợp pháp luật có quy định khác.

3. Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết.

Trƣờng hợp bản án đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Cỡ chữ