- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Thị Lan A phạm tội vận chuyển hàng cấm - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Thị Lan A phạm tội Vận chuyển hàng cấm.
- Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2021/HS-ST Ngày: 10 - 3 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Huyền
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Nhật Chiến;
2. Bà Hà Hồng Thu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Lan - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Chu Văn Tới - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 3 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 06/2021/TLST- HS ngày 27 tháng 01 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2021/QĐXXST- HS ngày 25 tháng 02 năm 2021 đối với bị cáo:
Vũ Thị Lan A, sinh ngày 22 tháng 9 năm 1998 tại huyện Ý Y, tỉnh Nam Định; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 92, khu D, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; chỗ ở: Số 36, khu V, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Thiên Chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vũ Văn C và bà Vũ Thị L; chồng: Bùi Quang H; con: Có 01 con, sinh năm 2019; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 11/01/2021 đến nay, có mặt.
Người chứng kiến: Anh Nguyễn Minh T, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 02/01/2021, Vũ Thị Lan A đi ra chợ Đ, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn mua 05 giàn pháo loại 36 quả/giàn với một người đàn ông khoảng 30 tuổi, không biết tên địa chỉ với giá 60.000 đồng/giàn, tổng cộng là 300.000 đồng mang về nhà cất giấu. Đến 13 giờ ngày 05/01/2021 Vũ Thị Lan A cho 05 giàn pháo vào trong vali cá nhân màu nâu rồi đón xe taxi xuống bến xe phía Bắc, huyện C, tỉnh Lạng Sơn để lên xe khách đi về quê Nam Định. Khi đi đến bến xe phía Bắc, Vũ Thị Lan A cho vali đựng pháo lên xe ô tô Biển kiểm soát: 35B - 010.74 do lái xe Nguyễn Viết H điều khiển, anh Nguyễn Minh T là phụ xe, vali để ở hàng ghế cuối xe phía bên phải. Đến khoảng 13 giờ 50 phút cùng ngày khi xe rời bến đi đến Km17 + 500 đường quốc lộ 1A thuộc thôn T, xã M, thành phố L thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện bắt quả tang.
Tại biên bản xác định trọng lượng, chủng loại vật nghi pháo ngày 05/01/2021 của Công an thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đã xác định: Số pháo thu giữ của Vũ Thị Lan A có tổng trọng lượng 7,5kg; gồm 05 khối hình hộp, mỗi khối chứa 36 vật hình trụ liên kết với nhau bởi dây nối, có kích thước 14.5 cm x 14.5 cm x 15 cm, bên ngoài có dây nối.
Tại kết luận giám định số 12/KL-PC09 ngày 10/01/2021 của Phòng Kỹ thuật Hình sự - Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận các mẫu vật pháo thu giữ đều chứa thuốc pháo, khi đốt đều gây ra tiếng nổ.
Tại bản Cáo trạng số 15/CT-VKSTP-MT ngày 25 tháng 01 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Vũ Thị Lan A về tội Tàng trữ, vận chuyển hàng cấm theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Thị Lan A khai nhận: Ngày 02/01/2021 bị cáo ra chợ Đ, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn mua 05 dàn pháo loại 36 quả/giàn với giá 300.000 đồng để mang về quê đốt dịp tết nguyên đán. Sau khi mua được số pháo trên, bị cáo mang số pháo trên về nhà cất giấu trong tủ quần áo từ ngày 02/01/2021 đến ngày 05/01/2021 thì mang số pháo trên đi xe khách về quê, khi đang đi trên xe khách đến khu vực xã M, thành phố L thì bị Công an kiểm tra và thu giữ toàn bộ số pháo trên.
Người chứng kiến anh Nguyễn Minh T vắng mặt tại phiên tòa, các lời khai trong hồ sơ thể hiện: Anh làm phụ xe của xe khách biển kiểm soát 35B - 010.74 chạy tuyến Ninh Bình - Lạng Sơn. Ngày 05/01/2021 có một người phụ nữ bế một trẻ em khoảng 01 tuổi và cầm theo 01 vali màu nâu lên xe khách của anh, khi xe đi đến đoạn Km17 + 500 thuộc thôn T, xã M, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn thì bị lực lượng công an kiểm tra, phát hiện trong vali màu nâu của người phụ nữ đó có chứa pháo. Khi người phụ nữ có chiếc vali màu nâu lên xe, do là hành lý của khách nên anh không được kiểm tra, do đó không biết trong vali màu nâu chứa pháo.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Vũ Thị Lan A phạm tội Vận chuyển hàng cấm, do bị cáo thực hiện một chuỗi hành vi nên chỉ chịu một tội là Vận chuyển hàng cấm, không đề nghị xét xử về tội tàng trữ hàng cấm. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Vũ Thị Lan A từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền vì bị cáo không có tài sản riêng để đảm bảo thi hành án. Về xử lý vật chứng: Đối với toàn bộ số pháo đựng trong 01 thùng bìa cát tông và 01 vali vải màu nâu thu giữ của bị cáo, Cơ quan điều tra đã tiêu hủy theo quy định.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng, việc thu thập tài liệu chứng cứ của Điều tra viên; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản sự việc ngày 05/01/2021 và các tài liệu, chứng cứ khác có [trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; có đủ căn cứ để xác định: Vào hồi 13 giờ 50 phút ngày 05/01/2021, bị cáo Vũ Thị Lan A đang có hành vi vận chuyển 7,5kg pháo nổ về quê sử dụng đốt nhân dịp Tết nguyên đán, khi đi đến Km17, thuộc thôn T, xã M, thành phố L thì bị lực lượng công an bắt giữ, do đó hành vi phạm tội của bị cáo đã phạm vào tội Vận chuyển hàng cấm như lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Bản thân bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ Nhà nước nghiêm cấm hành vi vận chuyển và đốt pháo nổ; nhưng do ý thức coi thường pháp luật nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo cần phải được xử lý đúng quy định của pháp luật để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
Để có căn cứ quyết định hình phạt, ngoài việc đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, cần xem xét đến đặc điểm về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, lần phạm tội này là lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.
Từ những nhận định nêu trên, trên cơ sở xem xét đề nghị của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng, hiện đang nuôi con nhỏ 14 tháng tuổi, nhất thời phạm tội, có khả năng tự cải tạo. Căn cứ Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 1, 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ sức răn đe, phòng ngừa, không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự địa phương, đồng thời đảm bảo tính khoan hồng của Nhà nước.
Về hình phạt bổ sung: Tại biên bản xác minh ngày 19/01/2021, thể hiện bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản riêng để đảm bảo thi hành án, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Xác nhận toàn bộ số pháo nổ, 01 thùng bìa cát tông và 01 vali vải màu nâu thu giữ của bị cáo đã được tiêu hủy ngày 18/01/2021.
Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, 2 ,5 Điều 65; điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự;
Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Thị Lan A phạm tội Vận chuyển hàng cấm.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vũ Thị Lan A 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (10/3/2021).
Giao bị cáo Vũ Thị Lan A cho Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã, phường nơi bị cáo cư trú trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về xử lý vật chứng: Xác nhận Cơ quan điều tra đã tiêu hủy toàn bộ số pháo còn lại sau giám định và 01 vali vải màu nâu theo biên bản kiểm tra tình trạng tang vật và tiêu hủy vật chứng ngày 18/01/2021.
4. Về án phí: Buộc bị cáo Vũ Thị Lan A phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn) tiền án phí hình sự sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời gian 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND TP Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn; - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn; - Công an TP Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn; - Chi cục THADSTP. Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Huyền |