- Tranh chấp gì? án hình sự — "Danh Ngọc T - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
- Tòa quyết gì? Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Danh Ngọc T.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2021/HS-ST Ngày 30 - 3 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Thị Tuyết Anh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dư Thị Út
Bà Nguyễn Thị Bích Tuyền
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Chi – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Ngộ - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 3 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 14/2021/TLST-HS ngày 23 tháng 02 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2021/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 3 năm 2021 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Danh Ngọc T (tên gọi khác: T), sinh năm 1996 tại Sóc T; nơi cư trú: Số 4/60, ấp T, xã Đ, huyện M, tỉnh S; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Danh Ngọc B, sinh năm 1971 và bà Thạch Thị Si, sinh năm 1972; có vợ là Tiết Thị Thanh H, sinh năm 1996 và 01 người con, sinh năm 2014; tiền sự: Không; tiền án: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/11/2020, đến ngày 30/11/2020 tạm giam đến nay, (có mặt).
2. Họ và tên: Tiết Thị Thanh H, sinh năm 1996 tại Sóc Trăng; nơi cư trú: Số 853B, khóm S, phường F, thành phố S, tỉnh S; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tiết L, sinh năm 1976 và bà Giang Thị D, sinh năm 1976; có chồng là Danh Ngọc T, sinh năm 1996 và 01 người con, sinh năm 2014; tiền sự: Không; tiền án: Không; bị cáo tại ngoại (có mặt)
- Bị hại: Ông Giang Tấn L, sinh năm 1974; địa chỉ: Số 76, khóm T, phường M, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu, (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng tháng 5 năm 2016, bị cáo Danh Ngọc T cùng vợ là Tiết Thị Thanh H bán rau cải tại chợ Cầu Xáng, thuộc khóm T, phường M, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 13/5/2016, bị cáo Tiết Thị Thanh H thấy ông Giang Tấn L cùng buôn bán rau cải cạnh bên, để xe mô tô trước chỗ bán rau cải của mình gây trở ngại việc buôn bán và lên xuống hàng hóa nên kêu ông L đem xe đi chỗ khác. Ông L không đồng ý nên cả hai xảy ra cự cải. Lúc này, bị cáo H gọi cho bị cáo Danh Ngọc T kể lại sự việc. Bị cáo T chuẩn bị 01 cây dao bằng kim loại màu đen có vỏ bao dao bằng giấy cứng, dán băng keo màu đen. Bị cáo T nói với ông Giang L1 và anh Tiết Hoàng L2 (cậu và em ruột của bị cáo H) là H có chuyện, rồi điều khiển xe mô tô đến chỗ của H. Ông L1 và L2 điều khiển xe mô tô theo.
Đến 12 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo Danh Ngọc T đến khu vự chợ Cầu Xáng, thấy ông Giang Tấn L đang đứng bán rau cải nên rút dao chạy đến chém ông L. Thấy Tây cầm dao xông đến, ông L bỏ chạy ra phía sau hàng ba nhà số 74, đường H, khóm T, phường M, thành phố B thì bị bị cáo T chém trúng 01 nhát vào tay trái. Ông L chụp lấy cái hộp đựng cơm bằng kim loại chống trả lại. Thấy vậy, bị cáo H lấy 01 thanh kim loại dài 114cm, màu xám xông đến dánh nhiều lái vào vùng mặt và lưng của ông L làm ông L bị choáng, ngã xuống nền gạch. Lúc này người dân xung quanh đến ngăn cản thì bị cáo H và Tây không đánh ông L nữa. Ông Giang Liệt và anh Tiết Hoàng Long chỉ đứng ở ngoài nhìn. Bị cáo H bỏ thanh kim loại lại hiện trường rồi lên xe để bị cáo T chở về, trên đường đi bị cáo T ném bỏ cây dao. Ông L được đưa vào bệnh viện đa khoa Bạc Liêu điều trị, bà Trần Thị Rõ (vợ ông L) đến công an phường M, thành phố B trình báo sự việc đồng thời giao nộp 01 thanh kim loại và 01 vỏ bao dao bằng giấy cứng dán băng keo màu đen.
* Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 82/TgT ngày 07/7/2016 và bản kết luận giám định pháp y về thương tích bổ sung số 113/TgT ngày 31/8/2016 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh Bạc Liêu kết luận đối với ông Giang Tấn L, có các thương tích gồm: Gãy xương chính mũi không ảnh hưởng đến chức năng ngửi, tỷ lệ 09%, vật gây thương tích do vật tầy; Gãy xương sườn số X bên trái, can xấu, tỷ lệ 06%, vật gây thường tích do vật tầy; 01 sẹo ở 1/3 trên sau cẳng tay trái, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 01%, vật gây thương tích do vật sắc. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 15%. Không gây ảnh hưởng về thẩm mỹ, theo Thông tư 20 không quy định về cố tật.
Về vật chứng của vụ án: 01 thanh kim loại dài 114cm, màu xám và 01 bao dào dài 45cm bằng giấy cứng, dán băng keo màu đen, thu giữ tại hiện trường đã chuyển Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu để quản lý. Đối với cây dao kim loại mà Danh Ngọc T dùng làm hung khí cơ quan điều tra không thu hồi được.
Về trách nhiệm dân sự: Ông Giang Tấn L đã nhận số tiền 21.635.000 đồng do bị cáo Tiết Thị Thanh H và Danh Ngọc T tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả, không có yêu cầu gì khác đồng thời có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.
Bản cáo trạng số 15/CT-VKSTPBL ngày 22/02/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu truy tố các bị cáo Tiết Thị Thanh H, Danh Ngọc T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
* Tại phiên tòa :
- Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu giữ nguyên quan điểm như cáo trạng truy tố đối với các bị cáo Tiết Thị Thanh H, Danh Ngọc T và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về hình phạt:
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Danh Ngọc T về tội “Cố ý gây thương tích” với mức án từ 01 (một) năm tháng đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Tiết Thị Thanh H về tội “Cố ý gây thương tích” với mức án từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho bị cáo H được hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 (hai) năm đến 03 (ba) năm. Giao bị cáo H cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bị cáo cư trú giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và các bị cáo đã thỏa thuận bồi thường xong nên đề nghị không đặt ra xem xét.
Về vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, tịch thu tiêu hủy 01 thanh kim loại dài 114cm, màu xám và 01 bao dào dài 45cm bằng giấy cứng, dán băng keo màu đen.
Về án phí: Đề nghị áp dụng Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Danh Ngọc T, Tiết Thị Thanh H phải chịu án phí hình sự theo quy định pháp luật.
- Các bị cáo Danh Ngọc T, Tiết Thị Thanh H thống nhất cáo trạng truy tố đối với hành vi của các bị cáo và không có ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo Danh Ngọc T, Tiết Thị Thanh H thống nhất tội danh và hình phạt, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo và cho các bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa bị cáo Danh Ngọc T, Tiết Thị Thanh H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng truy tố, lời khai của bị cáo Danh Ngọc T, Tiết Thị Thanh H tại cơ quan điều tra phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 13/5/2016, tại khu vực trước nhà số 74, đường Hoàng Diệu, khóm T, phường M, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu, các bị cáo Danh Ngọc T, Tiết Thị Thanh H có hành vi dùng dao, thanh kim loại là hung khí nguy hiểm cùng nhau gây thương tích cho ông Giang Tấn L, tổng tỷ lệ thương tích theo kết luận giám định của cơ quan chuyên môn là 15%.
Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo Danh Ngọc T, Tiết Thị Thanh H có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức rõ hành vi của bị cáo là trái pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, hành vi của các bị cáo Danh Ngọc T, Tiết Thị Thanh H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân nhân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu đã truy tố bị cáo là có căn cứ. Thời điểm các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội Bộ luật Hình sự năm 2015 chưa có hiệu lực tuy nhiên so sánh mức hình phạt của Bộ luật Hình sự năm 2015 và Bộ Luật Hình sự năm 1999, áp dụng nguyên tắc có lợi cho bị cáo nên Hội đồng xét xử áp dụng Bộ luật Hình sự năm 2015 để giải quyết.
Hành vi của các bị cáo Danh Ngọc T, Tiết Thị Thanh H là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự xem thường pháp luật, xâm phạm sức khỏe của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an toàn xã hội nên cần phải xử lý nghiêm để cải tạo bị cáo trở thành một người công dân tốt và đồng thời cũng giáo dục, răn đe phòng ngừa chung cho xã hội. Các bị cáo Danh Ngọc T, Tiết Thị Thanh H cùng thực hiện hành vi phạm tội nhưng không bàn bạc, phân công vai trò, không có sự câu kết chặt chẽ là đồng phạm giản đơn cùng thực hiện hành vi có vai trò ngang nhau nên xét thấy xử các bị cáo mức hình phạt tương đương nhau là phù hợp.
Các bị cáo Danh Ngọc T, Tiết Thị Thanh H được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo, khắc phục toàn bộ hậu quả, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Khi các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội xuất phát từ mâu thuẫn từ trước với ông Giang Tấn L, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 15% gần với mức khởi điểm của khung hình phạt mà điều luật quy định nên áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử các bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Đối với bị cáo Tiết Thị Thanh H đang trực tiếp nuôi con còn nhỏ là cháu Tiết Ngọc Khả Hân, sinh năm 2014 nên xét thấy việc cách ly bị cáo H khỏi đời sống xã hội sẽ làm ảnh hưởng đến việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Hân, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển toàn diện về thể chất, tinh thần, tâm lý và sự phát triển toàn diện của cháu trong tương lai; bên cạnh đó sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo H đã ăn năn hối cải, không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật khác nên xét thấy áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 cho bị cáo hưởng án treo là phù hợp. Từ nhận định trên chấp nhận toàn bộ đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
Về vật chứng của vụ án: 01 thanh kim loại dài 114cm, màu xám và 01 bao dào dài 45cm bằng giấy cứng, dán băng keo màu đen là công cụ phương tiện phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.
Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo Danh Ngọc T, Tiết Thị Thanh H đã bồi thường khắc phục hậu quả xong, ông Giang Tấn L không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí: Các bị cáo Danh Ngọc T, Tiết Thị Thanh H mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Danh Ngọc T.
Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Tiết Thị Thanh H.
Điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: Các bị cáo Danh Ngọc T (T), Tiết Thị Thanh H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
1.1. Xử phạt bị cáo Danh Ngọc T (T) 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tính kể từ ngày 27/11/2020.
1.2. Xử phạt bị cáo Tiết Thị Thanh H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 (ba) năm, tính kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Tiết Thị Thanh H cho Ủy ban nhân dân phường 4, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo và bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong nên không đặt ra giải quyết.
3. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (một) thanh kim loại dài 114cm, màu xám có dán giấy niêm phong còn nguyên vẹn, trên giấy niêm phong có chữ ký viết tên Giang Tấn L, Trần Thị Rõ và Điều tra viên Trương Minh Đương cùng dòng chữ “Một khác sắt vuông dài 1,14m, màu xám”.
- 01 (một) bao dao dài 45cm làm bằng giấy cứng, dán băng keo màu đen có dán giấy niêm phong còn nguyên vẹn, trên giấy niêm phong có chữ ký viết tên Giang Tấn L, Trần Thị Rõ và Điều tra viên Trương Minh Đương cùng dòng chữ “Một vỏ bao dao bằng giấy cứng dán băng keo màu đen dài 45cm”
(Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/02/2021)
4. Về án phí: Buộc các bị cáo Danh Ngọc T (T), Tiết Thị Thanh H mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phi hinh sự sơ thẩm.
́ ̀
Các bị cáo Danh Ngọc T (T), Tiết Thị Thanh H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại Giang Tấn L vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bạc Liêu; - Sở Tư pháp tỉnh Bạc Liêu; - VKSND TP Bạc Liêu; - CQ Điều tra TP Bạc Liêu; - Nhà tạm giữ Công an TPBL; - Chi Cục THA.DS TP Bạc Liêu; - Các bị cáo; Bị hại; - Lưu. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Lâm Thị Tuyết Anh |