vanban.org

Bản án 19/2021/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Bình Định Tuyên án 27/05/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Tuyên bố: Bị cáo Lê Chí N phạm tội “Giết người”.

*Áp dụng: Điểm a, n khoản 1 Điều 123; điểm b, p, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm k khoản 1 Điều 52; khoản 3 Điều 57 của BLHS. * Xử phạt: Bị cáo Lê Chí N 09 (chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18.01.2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Chí N phạm tội giết người - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? * Tuyên bố: Bị cáo Lê Chí N phạm tội “Giết người”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2021/HS-ST
Ngày: 27/5/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa : Bà Nguyễn Thị Thanh Bình.

Thẩm phán

: Ông Nguyễn Thanh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân

: Ông Đặng Tiến Công

Bà Nguyễn Thị Thúy Hồng

Bà Nguyễn Thị Diệu Thu.

- Thư ký phiên toà: Ông Hồ Hồng Vỹ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên toà:

Ông Mai Văn Cường – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 5 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 18/2021/TLST-HS ngày 29 tháng 4 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2021/HSST- QĐ ngày 14 tháng 5 năm 2021 đối với các bị cáo:

Lê Chí N, sinh năm: 1985 tại Bình Định; nơi cư trú: Thôn BA, xã PT, huyện TP, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Nông; trình độ văn hóa (học vấn): 02/12; dân tộc: Kinh; con ông: Lê Văn C (đã chết) và bà Nguyễn Thị L, sinh năm: 1961; có vợ: Nguyễn Thị L, sinh năm: 1987, con: Có 04 người lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 18/01/2021 đến nay. (Có mặt).

Người bào chữa: Bà Tôn Nữ Kim Yến – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm TGPLNN tỉnh Bình Định bào chữa cho bị cáo theo luật định.

- Bị hại:

1. Ông Nguyễn Văn Th, Sinh năm: 1954; Nơi cư trú: Xóm 5, thôn BA, xã PT, huyện TP, Bình Định. (có mặt)

2. Ông Nguyễn Văn T, Sinh năm: 1978; Trú tại: Xóm 5, thôn BA, xã PT, huyện TP, Bình Định. (có mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại Nguyễn Văn T: Ông Lê Minh Tiến – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm TGPLNN tỉnh Bình Định bảo vệ cho bị hại theo luật định.

- Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng:

1. Bà Nguyễn Thị L - Sinh năm: 1987. (có mặt)

2. Bà Nguyễn Thị C - Sinh năm: 1955. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 28/09/2020, Lê Chí N (bị khuyết tật vận động, liệt cánh tay phải được hưởng trợ cấp hàng tháng) đi dự đám giỗ tại nhà mẹ ruột là Nguyễn Thị Lan và có uống nhiều bia. Đến khoảng 20h cùng ngày, N về nhà và xảy ra mâu thuẫn cãi nhau với vợ là Nguyễn Thị L. Trong lúc cãi nhau, N chửi cha mẹ vợ và anh vợ là Nguyễn Văn T (là người khuyết tật về trí tuệ với mức độ khuyết tật nặng) có nhà ở bên cạnh nhà của vợ chồng N. Khi xảy ra mẫu thuẫn cãi nhau với N, L bỏ đi nơi khác. Nghe N chửi, Nguyễn Văn T từ trong nhà ông T đi qua và vào trong nhà N hỏi lý do vì sao chửi cha mẹ T. Lúc này, N đang nằm trên võng ở nhà trên. N nói với T “Mầy tin tao chém mầy hay không?”, T nói lại “Mầy muốn thì mầy chém đi”. N liền cầm lấy 01 cây rựa cầm bằng tay trái (tay thuận) chém từ trên xuống dưới, từ trái sang phải vào đầu của T; T đưa tay phải lên đỡ thì bị trúng vào cẳng tay phải gây thương tích; N chém tiếp nhát thứ hai theo hướng từ trên xuống trúng vào đỉnh đầu của T gây vỡ sọ. Sau khi bị chém, T kêu cứu thì ông Nguyễn Văn T (cha vợ của N) chạy qua nhà N, thì bị N dùng cây rựa chém 01 cái theo hướng từ trên xuống dưới vào đầu ông T trúng vào vùng trán đỉnh gây thương tích. Sau đó, N cầm cây rựa bỏ chạy vì sợ bị gia đình ông T đánh

Anh Nguyễn Văn T và ông Nguyễn Văn T được đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định cấp cứu và điều trị; đến ngày 30/09/2020 ông T xuất viện và ngày 09/10/2020 anh T xuất viện.

- Tại Bản kết luận giám định Pháp y về thương tích số 279/2020/PY-TgT ngày 21/12/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Bình Định kết luận thương tích của Nguyễn Văn T:

Vết thương vùng đỉnh phải gây vỡ sọ, rách xoang tĩnh mạch, rách màng cứng, lộ nhu mô não, dập não đã phẫu thuật; gặm bỏ sọ vỡ, lấy tụ máu, lấy não dập, cầm máu xoang tĩnh mạch, vá màng cứng, dẫn lưu ổ mổ. Hiện tại vùng đầu để lại sẹo vùng trán – đỉnh – thái dương phải kích thước (11x1)cm; có diện khuyết sọ đáy phập phồng; điện não đồ biến đổi mức độ trung bình.

Vết thương phức tạp cẳng tay phải, không tổn thương xương đã điều trị. Hiện cẳng tay phải đoạn 1/3 trên-sau-ngoài vết thương để lại sẹo kích thước (8x0,3)cm, tê vùng dưới vết thương.

Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại của Nguyễn Văn Th là 51%.

- Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 278/2020/PY-TgT ngày 21/12/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Bình Định kết luận thương tích của Nguyễn Văn Th:

Vết thương vùng trán đỉnh gây đau đầu, không nôn, không yếu liệt, không tổn thương sọ, nội sọ đã điều trị. Hiện vùng trán đỉnh để lại sẹo mờ KT (6x0,5)cm, điện não đồ biến đổi nhẹ. Tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 07%.

Bị hại Nguyễn Văn T yêu cầu bị cáo bồi thường tiền chi phí cấp cứu điều trị, tiền công lao động, tổn thất tinh thần do thương tích gây nên tổng số tiền 38.699.000đ. Hiện bị cáo chưa bồi thường.

Bị hại Nguyễn Văn Th không yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Tại bản cáo trạng số 23/CT-VKS-P2 ngày 26/4/2021 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định đã truy tố bị cáo Lê Chí N về tội “Giết người” theo quy định tại điểm a, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định luận tội:

* Về tội danh và hình phạt: Đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Lê Chí N phạm tội “Giết người” theo quy định tại điểm a, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự.

- Áp dụng: điểm a, n khoản 1 Điều 123; điểm p, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm k khoản 1 Điều 52; khoản 3 Điều 57 BLHS.

- Xử phạt: Bị cáo Lê Chí N từ 12 đến 13 năm tù.

* Về vật chứng: Tiêu hủy tang vật thu được của vụ án là đồ vật không còn giá trị sử dụng.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày lời bào chữa: Bị cáo không phạm tội giết người đối với ông Nguyễn Văn Th, không phạm tội có tính chất côn đồ, bị cáo học vấn thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, bị cáo có bốn con còn nhỏ, là lao động chính trong gia đình, có hoàn cảnh thuộc hộ nghèo, chưa có tiền án tiền sự, đã bồi thường một phần thiệt hại và tại phiên tòa các bị hại bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo mức án 03 năm tù là phù hợp.

Người bảo vệ quyền và lợi ích cho bị hại trình bày: Thống nhất quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, tuy nhiên tại phiên tòa bị hại Nguyễn Văn T yêu cầu giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo, đo đó đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và buộc bị cáo bồi thường theo yêu cầu của bị hại.

Các bị hại ý kiến: Xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo không bổ sung bào chữa, không tranh luận, xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Bình Định, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ nên có đủ cơ sở xác định:

Khoảng 20 giờ ngày 28.9.2020, sau khi uống bia tại đám giỗ nhà mẹ ruột, bị cáo Lê Chí N trở về nhà và có hành vi la lối, mắng chửi vợ và gia đình vợ, nghe N xúc phạm cha mẹ mình nên anh Nguyễn Văn T (là người bị khuyết tật trí tuệ mức độ nặng) đã sang nhà N hỏi lý do thì hai bên xảy ra mâu thuẫn với nhau. Bị cáo đã cầm 01 cái rựa chém từ trên xuống trúng vào vùng đầu của anh T gây thương tích, nghe anh T kêu cứu thì ông Nguyễn Văn Th chạy sang thì bị N dùng rựa chém từ trên xuống trúng vào vùng đầu ông T, sau đó bị cáo bỏ chạy. Hậu quả, anh Nguyễn Văn T bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây là 51% và ông Nguyễn Văn Th bị thương tích với tỷ lệ 07%.

Chỉ vì mâu thuẫn nhỏ trong sinh hoạt hàng ngày, bị cáo đã dùng rựa là hung khí nguy hiểm chém vào vùng đầu của ông Nguyễn Văn T và Nguyễn Văn Th là vùng trọng yếu của cơ thể, có thể gây ra cái chết cho người khác. Bị cáo N phải nhận thức được điều này nhưng vẫn để mặc hậu quả xảy ra, các bị hại không chết là do được cấp cứu kịp thời, do đó mặc dù các bị hại chỉ bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 51% và 07% nhưng bị cáo vẫn bị truy tố về hành vi “Giết người” với tình tiết “Giết 02 người trở lên” và “Có tính chất côn đồ”, nhưng hậu quả chưa đạt.

Bản cáo trạng số 23/CT-VKS –P2 ngày 26/4/2021 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định đã truy tố bị cáo Lê Chí N về tội “Giết người” theo quy định tại điểm a, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của người khác, thể hiện tính côn đồ hung hãn, xâm phạm đến đạo đức trong quan hệ gia đình, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự xã hội nên cần xử lý nghiêm khắc để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

* Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.

* Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã xâm phạm đến tính mạng của anh T là người bị khuyết tật trí tuệ với mức độ nặng nên đã phạm vào tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm k khoản 1 Điều 52 của BLHS.

* Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đều khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải và bị khuyết tật nặng (đang được hưởng trợ cấp xã hội), đã bồi thường một phần thiệt hại nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, p, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Tại phiên tòa bị hại cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bản thân bị cáo có nhận thức pháp luật còn hạn chế, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, thuộc hộ nghèo, có bốn con còn nhỏ và hành động phạm tội bộc phát nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt, do đó áp dụng khoản 3 Điều 57 của BLHS để xử phạt bị cáo.

* Về bồi thường thiệt hại: Tại phiên tòa, bị hại Nguyễn Văn Th không yêu cầu bị cáo bồi thường, bị hại Nguyễn Văn T yêu cầu bị cáo phải bồi thường các khoản cụ thể như sau:

Chi phí điều trị: 2.559.000 đồng.

Tiền công lao động của người chăm sóc: 3.300.000 đồng.

Tiền chi phí ăn uống của người chăm sóc: 1.540.000 đồng.

Tiền công thu nhập bị mất của bị cáo: 1.100.000 đồng.

Tiền thuê xe cấp cứu, điều trị: 400.000 đồng.

Tiền tổn thất về tinh thần: 29.800.000 đồng.

Tổng cộng: 38.699.000 đồng.

Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường tất cả các khoản trên, xét thấy đây là sự thỏa thuận tự nguyện giữa bị cáo và bị hại, không trái pháp luật và đạo đức xã hội, do đó HĐXX chấp nhận sự thỏa thuận giữa các bên.

Tiếp tục tạm giữ số tiền 1.000.000 đồng của gia đình bị cáo đã nộp để đảm bảo thi hành án.

Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT đã thu giữ vật chứng của vụ án gồm 01 cái rựa dài 46cm, phần cán được làm bằng tre dài 19cm, bên ngoài có quấn dây thun màu đen, phần lưỡi được làm bằng kim loại dài 27cm có một cạnh sắc bén do bị cáo nộp vào ngày 30.9.2020, đây là tang vật vụ án không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo là người khuyết tật nên được miễn nộp án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

* Tuyên bố: Bị cáo Lê Chí N phạm tội “Giết người”.

*Áp dụng: Điểm a, n khoản 1 Điều 123; điểm b, p, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm k khoản 1 Điều 52; khoản 3 Điều 57 của BLHS.

* Xử phạt: Bị cáo Lê Chí N 09 (chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18.01.2021.

Về bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 585; 586; 590 và 593 của BLDS: Buộc bị cáo Lê Chí N phải bồi thường cho bị hại Nguyễn Văn T số tiền 38.699.000 đồng.

Tiếp tục tạm giữ số tiền 1.000.000 đồng do gia đình bị cáo đã nộp để đảm bảo thi hành án. (Theo biên lai thu tiền số 0000008 ngày 19.5.2021 tại Cục THADS tỉnh Bình Định)

* Việc xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS:

Tịch thu tiêu hủy: 01 cây rựa dài 46cm, phần cán được làm bằng tre dài 19cm, bên ngoài có quấn dây thun màu đen, phần lưỡi được làm bằng kim loại dài 27cm có một cạnh sắc bén do bị can Lê Chí N giao nộp vào ngày 30.9.2020.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 14.5.2021 giữa Cơ quan CSĐT công an tỉnh Bình Định và Cục thi hành án dân sự tỉnh Bình Định).

* Về án phí HSST và DSST: Bị cáo Lê Chí N không phải chịu.

* Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo và những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Những người tham gia tố tụng vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) nếu người phải thi hành án không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của BLDS (2015) tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Vụ GĐKT 1 - TAND tối cao;

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

- VKSND cấp cao tại Đà Nẵng;

- VKSND tỉnh Bình Định;

- Trại tạm giam CA tỉnh Bình Định;

- Cơ quan ANĐT Công an tỉnh Bình Định;

- Cơ quan THAHS&HTTP CA tỉnh Bình Định;

- Cơ quan HSNV CA tỉnh Bình Định;

- Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Định;

- Sở tư pháp tỉnh Bình Định;

Nguyễn Thị Thanh Bình

- Phòng KTNV&THA tỉnh Bình Định;

- Những người tham gia tố tụng;

- Lưu.

Thành viên HĐXX

Cỡ chữ