- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Văn Tùng- Lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 201…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Phan Văn T 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 174 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2021/HS-ST Ngày 03-03- 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Quỳnh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Viết Khang
2. Ông Nguyễn Văn Chung
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hồng Giang - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Vĩnh Tường.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường tham gia phiên toà: Ông Đặng Anh Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 01/2021/HSST ngày 04 tháng 01 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2021/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 01 năm 2021, đối với bị cáo:
Phan Văn T, sinh ngày 12 tháng 7 năm 2001; trú tại: Thôn Đ, xã L, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; chức vụ Đảng, đoàn thể: Không; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn P và bà Nguyễn Thị T; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại bản án số 170/2020/HSST ngày 18/11/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xử phạt T 09 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, xảy ra ngày 11/8/2020 tại thành phố Việt Trì - tỉnh Phú Thọ.
Bị cáo bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Việt Trì bắt từ ngày 12/8/2020. Hiện bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam Tân Lập- Bộ Công an theo Quyết định thi hành án phạt tù số 155/2020/QĐ-CA ngày 23/12/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, (có mặt).
Người bị hại:
- Anh Trương Văn N, sinh năm 1990; trú tại: Xã H, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc, (vắng mặt).
- Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1982; trú tại: Thôn P, xã T, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, (vắng mặt).
- Anh Nguyễn Văn A, sinh năm 1977; trú tại: TDP M, phường K, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, (vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1983; trú tại: Thôn Đ, xã L, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, (có mặt).
Người liên quan:
- Anh Hà Văn T, sinh năm 1995; trú tại: Thôn N, xã L, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, (vắng mặt).
- Anh Nguyễn Văn T sinh năm 1993; trú tại: Xã C, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vụ thứ nhất: Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 08/8/2020, Phan Văn T – sinh năm 2001, trú tại xã L - huyện Vĩnh Tường - tỉnh Vĩnh Phúc đang chơi ở khu vực dốc chợ Vàng thuộc xã H – huyện Tam Dương – tỉnh Vĩnh Phúc thì Tùng sử dụng điện thoại gắn sim mang số thuê bao 0989.192.154 gọi vào số thuê bao 0984.508.309 của anh Trương Văn N – sinh năm 1990, trú tại xã H- huyện Tam Dương- tỉnh Vĩnh Phúc (là lái xe taxi của hãng Thiên Đức) thuê anh N điều khiển xe ô tô taxi đến đón T để chở T đi có việc. Anh N đồng ý rồi điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Huyndai, loại i10, BKS: 88A- 291.89 đến khu vực dốc chợ Vàng thuộc xã H- huyện Tam Dương đón và chở T đến quán sửa chữa điện thoại di động Ninh Vân ở xã C- huyện Vĩnh Tường để T sửa điện thoại di động. Sau khi sửa điện thoại xong, T tiếp tục bảo anh N chở T đi theo sự chỉ dẫn của T đến đầu ngõ rẽ vào nhà anh Đường Văn B – sinh năm 1988, trú tại thôn T- xã L - huyện Vĩnh Tường thì bảo anh N dừng xe đợi T ở đầu ngõ. T xuống xe đi bộ vào nhà anh B ở bên trong ngõ để cầm cố chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus của T cho anh B, lấy tiền tiêu xài cá nhân. Tuy nhiên, khi T đi vào trong nhà anh B thì không thấy anh B ở nhà nên T không cầm cắm được điện thoại. Do không có tiền tiêu xài cá nhân nên lúc này, T nảy sinh ý định lừa mượn chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A50S của anh N, rồi chiếm đoạt đem bán lấy tiêu xài, vì trước đó T nhìn thấy anh N có để chiếc điện thoại này tại hốc để đồ giữa ghế lái và ghế phụ. Sau đó, T đi ra đầu ngõ, ngồi lên ghế phụ phía trước xe ô tô của anh N rồi nói dối với anh N là “Cho em mượn chiếc điện thoại, mẹ em không có ở nhà, em đi vào trong nhà gọi cho mẹ em xem để đồ ở chỗ nào để lấy tý đồ rồi em ra ngay”. Khi T nói như vậy thì anh N không nghi ngờ gì mà đồng ý cho T mượn điện thoại. Anh N cầm chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A50S của mình nhập mật khẩu mở khóa màn hình đưa cho T mượn rồi bảo T “Đi nhanh rồi về nhé”. T cầm điện thoại của anh N đưa cho rồi giả vờ bấm số điện thoại để anh N tin tưởng, sau đó T xuống xe đi thẳng vào trong ngõ. Khi đi khuất tầm nhìn của anh N thì T rẽ đi về hướng đình thôn N- xã L để tìm nơi bán chiếc điện thoại di động vừa chiếm đoạt được của anh N. Trên đường đi, T gặp Nguyễn Quang T – sinh năm 2001, trú tại thôn Đ- xã L (là bạn của T) đang điều khiển xe mô tô đi một mình trên đường nên T nhờ T chở đến cửa hàng mua bán điện thoại di động Ninh Vân 2 ở xã T- huyện Vĩnh Tường do anh Nguyễn Văn T – sinh năm 1993, trú tại xã C- huyện Vĩnh Tường làm chủ. Đến nơi, T điều khiển xe đi về nhà luôn, còn T đi vào trong quán gặp và bán chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy A50S chiếm đoạt được của anh N cho anh T được 2.000.000đ (Hai triệu đồng). Sau đó, T đi lang thang và tiêu xài cá nhân hết số tiền này.
Sau khi không thấy T quay lại trả điện thoại, anh N nhiều lần gọi điện, nhắn tin cho T để đòi lại điện thoại thì được T nói cho biết việc T đã bán chiếc điện thoại của anh N tại cửa hàng mua bán điện thoại di động Ninh Vân 2 ở xã T- huyện Vĩnh Tường. Ngày 09/8/2020, anh N đến cửa hàng mua bán điện thoại di động Ninh Vân 2 gặp và mua lại của anh Nguyễn Văn T chiếc điện thoại Samsung Galaxy A50S của anh N với giá 2.000.000đ. Sau đó, anh N nhiều lần liên lạc với T để đòi lại số tiền bỏ ra để mua lại chiếc điện nêu trên nhưng T không nghe máy. Do đó, ngày 11/8/2020 anh N đã đến cơ quan Công an trình báo sự việc.
Ngay sau khi tiếp nhận tin báo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Tường đã tiến hành điều tra theo quy định pháp luật. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tạm giữ của anh Trương Văn N 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A50S bị Phan Văn T chiếm đoạt để phục vụ điều tra theo quy định.
Ngày 15/8/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Tường ra Yêu cầu định giá tài sản số 200 đề nghị Hội đồng định giá tài sản huyện Vĩnh Tường tiến hành định giá xác định giá trị chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A50S mà T đã chiếm đoạt của anh N. Ngày 03/9/2020, Hội đồng định giá tài sản huyện Vĩnh Tường đã có Bản kết luận định giá tài sản số 110/KL-HĐĐGTTHS, kết luận: Chiếc điện thoại di động có đặc điểm nêu trên có giá trị là 2.900.000đ (Hai triệu chín trăm nghìn đồng).
Quá trình điều tra xác định, ngoài hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh Trương Văn N ngày 08/8/2020 nêu trên thì Phan Văn T còn 02 lần thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản khác trên địa bàn huyện Vĩnh Tường, cụ thể:
Vụ thứ hai: Khoảng 15 giờ 00 ngày 09/8/2020, T sử dụng điện thoại di động gắn sim mang số thuê bao 0989.192.154 gọi vào số 02113.75.75.75 của hãng taxi Bảo Ngọc thuê xe taxi đến đón T ở nhà nghỉ Ngôi Sao thuộc xã T- huyện Vĩnh Tường. Một lúc sau, T thấy anh Nguyễn Văn T – sinh năm 1982, trú tại xã T – huyện Vĩnh Tường (là lái xe của hãng taxi Bảo Ngọc) điều khiển xe ô tô taxi đến đón T. Sau khi lên xe, T bảo anh T chở đến xã C để gặp bạn. Khi đi đến xã C, do không gặp được bạn nên T bảo anh T chở T về xã L- huyện Vĩnh Tường. Trên đường đi, T quan sát thấy tại vị trí hốc để đồ giữa ghế lái và ghế phụ trên xe ô tô của anh T có để 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F3 màu vàng nên T nảy sinh ý định lừa mượn chiếc điện thoại này của anh T, rồi chiếm đoạt đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Khi anh T chở T đi đến đầu một ngõ nhỏ thuộc thôn N- xã L – huyện Vĩnh Tường thì T bảo anh T dừng xe đợi T ở đầu ngõ để T đi vào nhà bạn có việc một lúc rồi sẽ ra luôn. Sau đó, T xuống xe và đi vào bên trong ngõ, khi đi khuất tầm nhìn của anh T thì T dừng lại và đứng tại đây để anh T nghĩ là T vào nhà bạn thật (thực tế trong ngõ này T không có người bạn nào cả). Khoảng 03 phút sau, T đi quay ra vị trí anh T dừng xe và nói với anh T “Anh cho em mượn chiếc điện thoại di động để em gọi cho bạn em lấy ít đồ, lấy xong thì em ra luôn vì vừa vào nhà không thấy có ai”. Khi T nói như vậy thì anh T không nghi ngờ gì mà đồng ý đưa cho T mượn chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F3 của anh T. Sau khi lừa mượn được điện thoại anh T, T đi thẳng vào trong ngõ, khi khuất tầm nhìn của anh T thì T đi vào trong khu dân cư rồi tháo bỏ sim điện thoại của anh T vứt bỏ ở ven đường (T không nhớ vứt ở vị trí nào) để anh T không tìm được T. Sau đó, T đi lang thang không ở nơi nào cố định. Đến ngày 11/8/2020, T sử dụng chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F3 chiếm đoạt được của anh T, đăng nhập vào mạng xã hội Facebook thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại phường B-TP Việt Trì- tỉnh Phú Thọ nên ngày 12/8/2020, T bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Việt Trì bắt giữ và thu giữ chiếc điện thoại di động OPPO F3 mà T chiếm đoạt được của anh T nêu trên.
Sau khi bị T lừa đảo chiếm đoạt mất chiếc điện thoại di động OPPO F3 màu vàng, do bận công việc cá nhân nên anh Nguyễn Văn T không đến Cơ quan Công an trình báo ngay mà đến ngày 11/9/2020, anh T mới đến Công an huyện Vĩnh Tường trình báo sự việc.
Quá trình điều tra, ngày 12/9/2020 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Việt Trì đã bàn giao vật chứng là chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F3 mà T đã chiếm đoạt của anh T như nêu trên cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Tường để điều tra, giải quyết theo quy định của pháp luật.
Ngày 30/10/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Tường ra Yêu cầu định giá tài sản số 266 đề nghị Hội đồng định giá tài sản huyện Vĩnh Tường tiến hành định giá xác định giá trị chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F3 màu vàng mà T đã chiếm đoạt của anh T như nêu trên. Ngày 16/11/2020, Hội đồng định giá tài sản huyện Vĩnh Tường có Bản kết luận định giá tài sản số 142/KL-HĐĐGTTHS, kết luận chiếc điện thoại trên có giá trị là: 900.000đ (Chín trăm nghìn đồng).
Vụ thứ ba: Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 10/8/2020, Phan Văn T đi đến khu vực bến xe Vĩnh Yên (cũ) thuộc phường K- thành phố Vĩnh Yên- tỉnh Vĩnh Phúc. Tại đây, T gặp và thuê anh Nguyễn Văn A - sinh năm 1977, trú tại phường K-thành phố Vĩnh Yên (là lái xe taxi của công ty Cổ phần thương mại và dịch vụ Đức Cường) chở T đi về huyện Vĩnh Tường, anh A đồng ý và điều khiển xe ô tô BKS: 88A-335.68 chở T đi về huyện Vĩnh Tường. Trên đường đi, T quan sát thấy tại vị trí hốc để đồ giữa ghế lái và ghế phụ trên xe ô tô của anh A có để 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu xanh nên T đã nảy sinh ý định lừa mượn chiếc điện thoại di động này của anh A, rồi chiếm đoạt mang bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Khi anh A chở T đi đến trước cửa một xưởng gỗ ở bên phải đường Quốc lộ 2A hướng từ TP.Vĩnh Yên - tỉnh Vĩnh Phúc đi TP. Việt Trì - tỉnh Phú Thọ, thuộc thôn M, xã T - huyện Vĩnh Tường thì T bảo anh A dừng xe đợi T và cho T mượn chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu xanh của anh A để T bật đèn pin soi đường, đi vào trong nhà lấy ít đồ, rồi quay ra đi vào thành phố Vĩnh Yên luôn. Anh A đồng ý và đưa cho T mượn chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu xanh của anh A. T cầm chiếc điện thoại di động của anh A đưa, rồi đi bộ về phía xưởng gỗ, sau đó lợi dụng ban đêm bỏ trốn đi nơi khác. Trên đường đi, T sử dụng chiếc điện thoại di động vừa chiếm đoạt được của anh A gọi vào số điện thoại 02113.87.87.87 của hãng taxi Ngọc Lan thuê xe taxi đến đón T ở quán bún Phương L thuộc thôn M, xã T - huyện Vĩnh Tường. Sau khi gọi điện thuê xe taxi xong thì T tháo bỏ chiếc sim điện thoại của anh A ra vứt ở dệ đường (T không nhớ đã vứt ở vị trí nào). Một lúc sau, T thấy anh Hà Văn T - sinh năm 1995, trú tại xã L- huyện Vĩnh Tường (là lái xe taxi của hãng Ngọc Lan) điều khiển xe ô tô đến đón T. Sau đó, T bảo anh T chở T đi đến nhà nghỉ An T ở xã B- huyện Vĩnh Tường để thuê phòng nghỉ. Trên đường đi, do hết tiền tiêu xài nên T bảo anh T cho T vay số tiền 2.000.000đ và T để lại cho anh T chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu xanh vừa chiếm đoạt được của anh A để làm tin. Anh T hỏi T điện thoại này của ai thì T nói là của T mới mua được 03 ngày. Anh T tin tưởng nên đồng ý cho T vay số tiền 2.000.000đ nhưng anh T chỉ đưa T 1.000.000đ, còn 1.000.000đ anh T trừ nợ 750.000đ T vay của anh T trước đó và trừ tiền đi taxi hết 250.000đ. T cầm số tiền 1.000.000đ anh T đưa rồi đưa anh T giữ chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu xanh chiếm đoạt được của anh A, sau đó T xuống xe và hẹn anh T sáng hôm sau đến nhà nghỉ A đón và đưa T đi bán điện thoại. Đến khoảng 08 giờ 00 phút ngày 11/8/2020, anh T điều khiển xe ô tô đến đón và chở T đi bán điện thoại nhưng do khách mua trả giá thấp hơn giá trị tiền vay của anh T nên T không bán nữa mà đưa luôn điện thoại cho anh T giữ và hẹn anh T khi nào có tiền sẽ chuộc lại điện thoại.
Sau khi bị T lừa đảo chiếm đoạt mất chiếc điện thoại di động VIVO màu xanh, do bận công việc cá nhân nên anh Nguyễn Văn A không đến Cơ quan Công an trình báo ngay mà đến ngày 12/9/2020, anh A mới đến Công an huyện Vĩnh Tường trình báo sự việc.
Quá trình điều tra, ngày 12/10/2020, anh Hà Văn T đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Tường chiếc điện thoại di động VIVO màu xanh nêu trên.
Ngày 30/10/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Tường ra Yêu cầu định giá tài sản số 265 đề nghị Hội đồng định giá tài sản huyện Vĩnh Tường tiến hành định giá xác định giá trị của 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu xanh mà T đã chiếm đoạt của anh A như nêu trên. Ngày 16/11/2020, Hội đồng định giá tài sản huyện Vĩnh Tường có Bản kết luận định giá tài sản số 141/KL-HĐĐGTTHS, kết luận: Chiếc điện thoại di động trên có giá trị là: 800.000đ (Tám trăm nghìn đồng).
Tại bản Cáo trạng số 04/CT-VKS-VT ngày 30 tháng 12 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường đã truy tố bị cáo Phan Văn T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phan Văn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phan Văn T từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 09 tháng tù của Bản án số 170/2020/HSST ngày 18/11/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cả hai bản án là 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt, ngày 12/8/2020 . Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Tùng. Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Vĩnh Tường, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2]. Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Phan Văn T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường, bị cáo khai nhận:
Trong thời gian từ ngày 08/8/2020 đến ngày 10/8/2020, bị cáo liên tiếp 03 lần thực hiện hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tổng giá trị tài sản chiếm đoạt được là 4.600.000đ, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 08/8/2020, tại đường liên thôn thuộc thôn T- xã L - huyện Vĩnh Tường, T đã lừa đảo chiếm đoạt được 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A50S trị giá 2.900.000đ của anh Trương Văn N. Sau khi chiếm đoạt được tài sản, T đã mang chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy A50S của anh N đến cửa hàng mua bán điện thoại di động Ninh Vân 2 ở xã T- huyện Vĩnh Tường bán cho anh Nguyễn Văn T (là chủ cửa hàng) được 2.000.000đ, số tiền này T đã tiêu xài cá nhân hết. Sau khi biết việc T bán chiếc điện thoại Samsung Galaxy A50S chiếm đoạt được của mình cho anh T, ngày 09/8/2020 anh N đã đến mua lại của anh T chiếc điện thoại nêu trên với giá 2.000.000đ. Quá trình điều tra, bà Nguyễn Thị T (mẹ đẻ của T) đã bồi thường cho anh N số tiền 2.000.000đ nêu trên. Anh N đã nhận đủ tiền và không yêu cầu T phải bồi thường gì thêm.
Lần thứ hai: Khoảng 16 giờ 00 ngày 09/8/2020, tại đường liên thôn thuộc thôn N, xã L - huyện Vĩnh Tường - tỉnh Vĩnh Phúc, T đã lừa đảo chiếm đoạt được 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F3 màu vàng trị giá 900.000đ của anh Nguyễn Văn T. Sau khi chiếm đoạt được tài sản, T đã sử dụng chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F3 của anh T, đăng nhập vào mạng xã hội Facebook thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại phường B- TP Việt Trì- tỉnh Phú Thọ. Đến ngày 12/8/2020, T bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Việt Trì bắt giữ và thu giữ chiếc điện thoại di động OPPO F3 nêu trên. Ngày 12/9/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Việt Trì đã bàn giao lại chiếc điện thoại di động OPPO F3 mà T chiếm đoạt được của anh T cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Tường để điều tra theo quy định. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Tường đã trả lại chiếc điện thoại nêu trên cho anh T. Nhận lại tài sản anh T không có yêu cầu đề nghị gì.
Lần thứ ba: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 10/8/2020, tại đoạn đường QL2A thuộc địa phận thôn M, xã T - huyện Vĩnh Tường, Phan Văn T đã lừa đảo chiếm đoạt được 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu xanh, trị giá 800.000đ của anh Nguyễn Văn A. Sau khi chiếm đoạt được tài sản, T đã đưa chiếc điện thoại VIVO màu xanh chiếm đoạt được của anh A cho anh Hà Văn T giữ làm tin để vay của anh T số tiền 2.000.000đ. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu hồi được chiếc điện thoại VIVO màu xanh nêu trên và đã trả lại cho anh A theo quy định của pháp luật. Bà Nguyễn Thị T (mẹ đẻ của T) đã trả lại cho anh T số tiền 2.000.000đ nêu trên. Anh T đã nhận đủ tiền và không có yêu cầu đề nghị gì nữa.
[3]. Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ như lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và vật thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Phan Văn T đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự quy định: “1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng …, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm…”
[4]. Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự liều lĩnh và coi thường pháp luật, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự, trị an tại địa phương và bất bình trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần phải xử lý bị cáo trước pháp luật mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[5]. Xét nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự thấy rằng: Ngày 18/11/2020 , bị cáo đã bị Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xử phạt 09 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, xảy ra ngày 11/8/2020 tại thành phố Việt Trì - tỉnh Phú Thọ. Vì vậy, cần thiết phải xử lý nghiêm buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù tại Trại giam một thời gian nhất định để giáo dục và phòng ngừa. Tuy nhiên trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; bị cáo tích cực tác động về gia đình, để gia đình bị cáo khắc phục bồi thường cho người bị hại. Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo yên tâm cải tạo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
[6]. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về hình phạt đối với bị cáo là phù hợp được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7]. Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bà Nguyễn Thị T (mẹ đẻ của T) đã bồi thường cho anh Trương Văn N số tiền 2.000.000đ; trả lại cho anh Hà Văn T số tiền 2.000.000đ. Nhận đủ số tiền trên anh N và anh T không yêu cầu T phải bồi thường gì thêm. Bà Nguyễn Thị T không yêu cầu T phải trả lại cho bà số tiền nêu trên, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8]. Về vật chứng của vụ án và các vấn đề khác:
- Đối với anh Nguyễn Văn T là người mua chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A50S do T chiếm đoạt được của anh Trương Văn N ngày 08/8/2020 mà có. Quá trình điều tra xác định khi mua chiếc điện thoại trên thì anh T không biết đó là tài sản do T phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý mà chỉ giáo dục, nhắc nhở là phù hợp.
- Đối với anh Hà Văn T là người cho T vay tiền và nhận giữ chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu xanh do T chiếm đoạt được của anh A để làm tin. Quá trình điều tra xác định khi cho T vay tiền và nhận giữ chiếc điện thoại VIVO màu xanh của T để làm tin thì anh T không biết chiếc điện thoại di động này là do T vi phạm pháp luật mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý mà chỉ giáo dục, nhắc nhở là phù hợp.
- Đối với Nguyễn Quang T là người chở T đến cửa hàng mua bán điện thoại di động Ninh Vân 2 ở xã T- huyện Vĩnh Tường để T bán chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy A50S chiếm đoạt được của anh Trương Văn N ngày 08/8/2020. Quá trình điều tra xác định, T không biết việc T có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh N và không biết việc T nhờ T chở đến cửa hàng mua bán điện thoại di động Ninh Vân 2 là để bán chiếc điện thoại di động T chiếm đoạt được của anh N nêu trên. Do vậy, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với T là có căn cứ.
- Đối với 03 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A50S, OPPO F3 màu vàng và VIVO màu xanh. Quá trình điều tra xác định chiếc điện thoại Samsung Galaxy A50S là tài sản hợp pháp của anh Trương Văn N, chiếc điện thoại OPPO F3 là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Văn T và chiếc điện thoại VIVO là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Văn A, nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh N, anh T và anh A các tài sản nêu trên. Nhận lại tài sản anh N, anh T và anh A không có yêu cầu đề nghị gì, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[9]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 của Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Phan Văn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt bị cáo Phan Văn T 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 09 tháng tù của Bản án số 170/2020/HSST ngày 18/11/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt, ngày 12/8/2020.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Phan Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc; - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc; - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc; - VKSND huyện Vĩnh Tường; - Phòng HS nghiệp vụ công an Vĩnh Tường; - Chi cục THADS huyện Vĩnh Tường; - Người tham gia tố tụng; - Lưu HS, VP. Các Hội thẩm nhân dân Lê Xuân Tầm Nguyễn Viết Khang | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đã ký Hoàng Thị Quỳnh Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Xuân Trọng |