vanban.org

Bản án 19/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu Tuyên án 15/07/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ngô T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 178, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Ngô T 01 (một) năm tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "cố ý làm hư hỏng tài sản - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 20…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ngô T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH LỢI
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2021/HS-ST
Ngày 15 - 7 - 2021.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH LỢI, TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Trang Thảo

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Nay

Ông Phạm Văn Sáu

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nhựt – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Thạch Hoàng Thi - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 16/2021/TLST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2021/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2021 đối với bị cáo:

Ngô T (tên gọi khác S), sinh năm 1993. Nơi cư trú: khóm C, phường T, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Th, sinh năm 1962 và bà N, sinh năm 1959; bị cáo có vợ là Ng và có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2018, nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 22 tháng 9 năm 2009, bị Tòa án nhân dân thị xã B, tỉnh Bạc Liêu xét xử 03 năm tù về tội “Cướp tài sản”, ngày 22 tháng 3 năm 2012 bị Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Bạc Liêu xét xử 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo tại ngoại, “có mặt”.

- Bị hại: Anh M, sinh năm 1980; địa chỉ: Ấp D, xã P, thị xã R, tỉnh Bạc Liêu, “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 01 tháng 02 năm 2021, bị cáo Ngô T điều khiển xe môtô biển kiểm soát 94F4-3199 chạy trên tuyến Quốc lộ 1A hướng Bạc Liêu – Cà Mau. Khi bị cáo T đi đến vòng xoay thuộc khóm Cầu Sập, phường 8, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu thì gặp xe ô tô khách 16 chỗ biển kiểm soát 94B-006.51 do bị hại M điều khiển chạy cùng chiều từ phía sau vượt qua xe của bị cáo T. Do bị cáo T cho rằng bị hại M điều khiển xe lấn ép xe bị cáo nên bị cáo T điều khiển xe rượt đuổi theo xe của bị hại M. Khi đến đoạn đường thuộc ấp Phước Thạnh 1, xã Long Thạnh, huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu thì bị cáo T đuổi kịp xe bị hại M và dùng tay đập vào thân xe kêu bị hại M cho xe dừng lại. Bị hại M điều khiển xe ô tô tấp vào lề phải đường Quốc lộ 1A. Lúc này, bị cáo T dựng xe chặn ngang phía trước đầu xe ô tô và dùng tay đập vào kính chắn gió bên cạnh chỗ bị hại M ngồi, kêu bị hại M xuống xe nhưng bị hại M không xuống. Bị cáo T tiếp tục dùng chân đá, đạp và dùng tay bẻ cong làm bể phần nhựa ép biển kiểm soát phía trước đầu xe ô tô. Bị cáo T đi lại chỗ gương chiếu hậu bên trái dùng tay nắm đu người bẻ gãy và bể phần kính của gương chiếu hậu, bị cáo tiếp tục nhặt một cục đá ở cạnh bên đường ném trúng làm bể, nứt kính chắn gió phía trước xe ô tô của bị hại M. Sau đó, bị hại M nhờ người dân xung quanh báo Công an xã Long Thạnh và trình báo Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Lợi.

Tại Kết luận định giá tài sản số 07/KL-HĐĐGTS ngày 19 tháng 3 năm 2021 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu kết luận về giá tài sản thiệt hại tại thời điểm ngày 01 tháng 02 năm 2021, như sau: 01 (một) kính chắn gió phía trước của xe ô tô khách 16 chỗ, nhãn hiệu HYUNDAI, số loại SOLATI, biển kiểm soát 94B-006.51 là 14.990.000 đồng, 01 (một) gương chiếu hậu bên trái của xe ô tô khách 16 chỗ, nhãn hiệu HYUNDAI, số loại SOLATI, biển kiểm soát 94B-006.51 là 6.000.000 đồng, chi phí sửa chữa, ép lại biển kiểm soát 94B-006.51 là 150.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 21.140.000 đồng.

Về vật chứng trong vụ án:

Đối với 01 xe ô tô khách 16 chỗ, nhãn hiệu HYUNDAI, số loại SOLATI, màu sơn: Đỏ; số máy K853483D4CB; số khung 37RPKB003093; biển kiểm soát 94B-006.51 đã trả cho chủ sở hữu là bị hại M.

Đối với 01 cục đá bị cáo Ngô T dùng ném làm bể kính chắn gió phía trước của xe ô tô, sau khi tiếp nhận tin báo Công an xã Long Thạnh huyện Vĩnh Lợi đã xuống hiện trường đồng thời truy tìm cục đá nhưng không tìm được.

Đối với 01 xe mô tô loại WARE, màu sơn: Xanh, mang biển kiểm soát 94F4-3199; số máy 152FMH-02038674; số khung SPCH0021X202377 và giấy chứng nhận đăng ký xe biển kiểm soát 94F4-3199 của bị cáo Ngô T hiện đang quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Lợi.

Bản Cáo trạng số 17/CT-VKS ngày 28 tháng 5 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lợi truy tố bị cáo Ngô T về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Ngô T về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo nội dung Cáo trạng số 17/CT-VKS ngày 28 tháng 5 năm 2021. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Ngô T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Căn cứ khoản 1 Điều 178, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Ngô T từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về xử lý vật chứng, chiếc xe ô tô khách 16 chỗ biển kiểm soát 94B-006.51, Cơ quan điều tra Công an huyện Vĩnh Lợi đã trả lại cho bị hại M là có căn cứ. Đối với 01 cục đá mà bị cáo T dùng ném làm bể kính chắn gió phía trước của xe ô tô, không tìm được nên không đề cập xử lý. Đối với chiếc xe mô tô và giấy chứng nhận đăng ký xe biển kiểm soát 94F4-3199 của bị cáo T do không liên quan đến tội phạm nên đề nghị trả lại cho bị cáo T.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại M không yêu cầu bị cáo T bồi thường thiệt hại nên không xem xét, giải quyết.

Án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo T phải chịu theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, không có ý kiến tranh luận và bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt khi nói lời nói sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Lợi, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lợi, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện theo quy định pháp luật về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy, hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về tố tụng: Bị hại M có đơn xin xét xử vắng mặt. Thấy rằng, các tình tiết trong vụ án đã được làm rõ và không cần đối chất tại phiên tòa nên sự vắng mặt của bị hại M không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử giải quyết vắng mặt bị hại M theo quy định khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về nội dung:

Tại phiên tòa, bị cáo Ngô T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 01 tháng 02 năm 2021, bị cáo Ngô T đã thực hiện hành vi dùng tay, chân và dùng đá đập phá, ném trúng làm hư hỏng một số bộ phận của xe ô tô khách 16 chỗ biển kiểm soát 94B-006.51 của bị hại M, tổng tài sản bị thiệt hại qua định giá là 21.140.000 đồng.

Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo T đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi nêu trên của bị cáo T phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Hội đồng xét xử kết luận bị cáo T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo T: Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện ý thức xem thường pháp luật, không chỉ trực tiếp xâm hại đến tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, mà còn ảnh hưởng đến tình hình an ninh tại địa phương. Bị cáo T là người có nhân thân xấu nên cần thiết phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi bị cáo T, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật để trở thành người công dân tốt, cũng như phục vụ cho công tác đấu tranh phòng chống các loại tội phạm trong xã hội. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và bị hại cũng có đơn yêu cầu giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng, Cơ quan điều tra Công an huyện Vĩnh Lợi đã trả lại chiếc xe ô tô khách 16 chỗ biển kiểm soát 94B-006.51 cho chủ sở hữu là bị hại M nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lợi không đề nghị xử lý là có căn cứ. Đối với cục đá mà bị cáo T dùng để ném làm bể kính chắn gió phía trước của xe ô tô, do không tìm được nên không xử lý là có căn cứ. Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 94F4-3199 và giấy chứng nhận đăng ký xe biển kiểm soát 94F4-3199 là tài sản của bị cáo T, do đây không phải là công cụ, phương tiện phạm tội và xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án nên cần trả lại cho bị cáo T.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại M không yêu cầu bị cáo Ngô T bồi thường thiệt hại nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo Ngô T phải chịu 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ngô T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

2. Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 178, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Ngô T 01 (một) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trả lại chiếc xe mô tô loại WARE, màu sơn: Xanh, mang biển kiểm soát 94F4-3199, số máy 152FMH-02038674, số khung SPCH0021X202377 và giấy chứng nhận đăng ký xe biển kiểm soát 94F4-3199 cho bị cáo Ngô T, (vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu đang quản lý).

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Ngô T phải chịu số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

5. Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mươi lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ