vanban.org

Bản án 19/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 14/04/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N, phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 04 ( Bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11 tháng 01 năm 2021. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn N phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí HSST. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn văn N phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N, phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HƯƠNG KHÊ
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2021/HS - ST
Ngày 14/4/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG KHÊ, TỈNH HÀ TĨNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Trọng Hùng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Thái Bá Đức và ông Đoàn Khắc Báu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Khuyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Lê Thuần Thắng - Kiểm sát viên.

Vào hồi 13 giờ 30 phút, ngày 14 tháng 04 năm 2021, tại Hội trường xét xử số 01 Tòa án nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 15/2021/TLST - HS ngày 18 tháng 03 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2021/ QĐXXST - HS ngày 01 tháng 04 năm 2021, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn N, sinh ngày 17/06/2000, tại xã L, huyện H, tỉnh H; Trú tại: Thôn B, xã L, huyện H, tỉnh ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1973 và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1976; Vợ, con: Chưa có. TiÒn ¸n, tiền sự: Không. Hiện đang bị tạm giam tại trại giam Công an tỉnh Hà Tĩnh từ ngày 11/1/2021 đến nay; có mặt.

- Bị hại: Anh Phạm Duy N; sinh năm 2000; địa chỉ: Thôn B, xã L, huyện H, tỉnh H; Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Trần Văn H; sinh năm 1987; địa chỉ: Tổ d, thị trấn H, huyện H, tỉnh H; vắng mặt.

+ Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1973; địa chỉ: Thôn B, xã L, huyện H, tỉnh H. Có mặt.

- Người làm chứng:

+ Anh Nguyễn Tiến L; sinh năm 1999; địa chỉ: Tổ d, thị trấn H, huyện H, tỉnh H; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 02 giờ, ngày 01 tháng 01 năm 2021, Nguyễn Văn N bắt xe ôm đi từ thị trấn Hương Khê đến nhà chị Nguyễn Thị G để gặp anh Phạm Duy N để mượn tiền. Khi đến, Nguyễn Văn N đi thắng vào phòng ngũ thấy Phạm Duy N đang nằm ngũ trên giường, dưới chân có 01 chiệc điện thoại Iphone 7plus màu trắng đang xạc pin, Nguyễn Văn N liền lấy chiếc điện thoại rồi đi ra lên xe ôm đang chờ sẵn trước đó đi đến nhà anh Phan Công C thì gặp anh Nguyễn Tiến L đang chơi ở đó nên N ở lại chơi cùng với L.

Đến khoảng 06 giờ cùng ngày, Nguyễn Văn N cùng Nguyễn Tiến L bắt xe tắc xi đến quán Internet Hải Việt chơi điện tử, chơi được một lúc N nói với L có chiếc điện thoại Iphone của em trai và nhờ L đi bán lấy tiền. Nguyễn Tiến L đồng ý rồi cùng Nguyễn Văn N bắt tăcxi đến cửa hàng điện thoại di động Quang Hùng, khi đến N ngồi trên xe, L đưa điện thoại vào bán cho anh Trần Văn H chủ cửa hàng điện thoại với giá 4.500.000đ. Sau khi bán xong, Nguyễn Tiến L đi ra đưa tiền cho Nam rồi 2 người đi về nhà. Số tiền bán điện thoại N đã tiêu xài cá nhân hết số tiền đó.

Sau khi nhận được đơn trình báo của anh Phạm Duy N, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hương Khê tiến hành điều tra, xác minh, thu hồi tài sản và bắt tạm giam Nguyễn Văn N.

Theo Kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Hương Khê số 01/2021/KLĐG, ngày 07/1/2021 xác định: Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus màu trắng đã qua sử dụng trị giá: 4.500.000đ (Bốn triệu năm trăm ngàn đồng).

Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Appe, loại Iphone 7plus số máy NNQ2LL/A, số IMI 355375088844813, màu trắng, dung lượng 128Gb, đã qua sử dụng. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sử hữu.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị mất trộm và không có yêu cầu về mặt dân sự.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Trần Văn H đã nhận lại số tiền 4.500.000đ từ gia đình bị cáo.

Tại bản cáo trạng số 14/CT - VKS - HK ngày 16/03/2021 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ về hành vi phạm tội của mình như nội dung trên. Bị cáo không kêu oan mà xin được giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N từ 06 đến 08 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/1/2021. Đồng thời đề nghị xử lý vật chứng và án phí theo quy định.

Bị cáo, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến, tranh luận gì về bản luận tội của Viện kiểm sát đối với mức hình phạt, xử lý vật chứng và án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng hình sự: Các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra và của điều tra viên trong quá trình điều tra vụ án; quyết định, hành vi tố tụng của Viện kiểm sát và của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đối chiếu lời khai nhận tội của bị cáo với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là phù hợp. Do vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Do muốn có tiền tiêu xài cá nhân vào khoảng 02 giờ ngày 01/01/2021, bị cáo Nguyễn Văn N đã lơi dụng sơ hở mất cảnh giác của anh Phạm Duy N trong khi đang nằm ngủ, Nguyễn Văn N đã thực hiện hành vi lấy trộm 01 chiếc điện thoại di động Iphone 7 plus của anh Phạm Duy N trị giá 4.500.000đ (Bốn triệu năm trăm ngàn đồng).

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn làm mất trật tự trị an trên địa bàn, gây hoang mang lo lắng cho quần chúng nhân dân trong việc quản lý tài sản. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội Trộm cắp tài sản quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn N không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, ăn năn, hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị hại có đơn xin giám nhẹ hình phạt, chưa có tiền án, tiền sự nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giám nhẹ, tuổi đời còn trẻ, phạm tội mang tính chất bột phát, do vậy Hội đồng xét xử xem xét áp dụng dưới khung hình phạt theo quy định tại khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự cho bị cáo là phù hợp hành vi phạm tội của bị cáo.

Quan điểm đề nghị mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, tuy nhiên cũng cần xem xét xử lý mức hình phạt dưới khung cho bị cáo để phù hợp với tính chất hành vi phạm tội đổi với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Appe, loại Iphone 7plus số máy NNQ2LL/A, số IMI 355375088844813, màu trắng, dung lượng 128Gb, đã qua sử dụng. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp, đúng quy định của pháp luật được quy định tại khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, người bị hại đã nhận lại tài sản bị mất và không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Trần Văn H yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn N hoàn trả số tiền 4.500.000đ, bị cáo và gia đình bị cáo đã hoàn trả đầy đủ, không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn N phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Trong vụ án này bị cáo N có nhờ Nguyễn Tiến L bán chiếc điện thoại trộm cắp cho Trần Văn H, nhưng L và H đều không biết chiếc điện thoại mua bán do trộm cắp mà có nên không xem xét xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí tòa án. Tuyên xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N, phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 04 ( Bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11 tháng 01 năm 2021.

3. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn N phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí HSST.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại nơi cư trú. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Bị hại;

- Người có QLVNVLQ;

- VKSND tỉnh Hà Tĩnh;

- VKSND huyện Hương Khê;

- CA huyện Hương Khê;

- THADS huyện Hương Khê;

- THA hình sự;

Lê Trọng Hùng

- Sở tư pháp tỉnh Hà Tĩnh;

- TAND tỉnh Hà Tĩnh;

- Trại tạm giam CA tỉnh Hà Tĩnh;

- Lưu HSVA - VPTA.

Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm

Héi thÈm nh©n d©n

ThÈm ph¸n- Chñ to¹ phiªn toµ Thái Bá Đức

Đoàn Khắc Báu

Lê Trọng Hùng Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Bị hại;

- Người có QLVNVLQ;

- VKSND tỉnh Hà Tĩnh;

- VKSND huyện Hương Khê;

- CA huyện Hương Khê;

- THADS huyện Hương Khê;

- THA hình sự;

Lê Trọng Hùng

- Sở tư pháp tỉnh Hà Tĩnh;

- TAND tỉnh Hà Tĩnh;

- Trại tạm giam CA tỉnh Hà Tĩnh;

- Lưu HSVA - VPTA.

Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm

Héi thÈm nh©n d©n

ThÈm ph¸n- Chñ to¹ phiªn toµ Thái Bá Đức

Đoàn Khắc Báu

Lê Trọng Hùng

Cỡ chữ