- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thị Thanh H - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (điều 341…"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 125 Bộ luật ố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật ố tụng hình sự và Ngh
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN LÃO THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2021/HS-ST Ngày 18-5-2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN LÃO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà V h hanh Vân.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đàm Công Du;
Ông Nguyễn Văn hắng.
- Thư ký phiên toà: Bà Lưu Hải Hà – hư ký oà án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn h Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở òa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 16/2021/TLST-HS ngày 16 tháng 4 năm 2021 theo Quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử số 97/2021/QĐXXS -HS ngày 06 tháng 5 năm 2021 đối với b cáo:
Trần Thị Thanh H, sinh ngày 14 tháng 6 năm 1999 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn H, xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc t ch: Việt Nam; con ông rần Văn T và bà Nữ h T’; b cáo có chồng là Phạm Văn T và 01 con sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; b cáo b áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 29 tháng 01 năm 2021; có mặt.
Người làm chứng:
Các ch Bùi h H1, Lê h H’, Phùng h Kim N, Nguyễn h N’, Ch Nguyễn h T, Nữ h T’, Nguyễn h T1; các anh Nguyễn hiện A, V Việt A’, Bùi Xuân T, Nguyễn Xuân B; đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
heo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 7 năm 2020, qua mạng xã hội Facebook rần h hanh H biết chủ tài khoản mang tên " rân ieu hu" (không xác đ nh được tên tuổi, đ a chỉ) giao bán một số giấy tờ của cơ quan, tổ chức, trong đó có giấy khám sức khỏe đã có chữ ký của các bác sĩ và đóng dấu bệnh viện; phần tên, tuổi, đ a chỉ và ngày, tháng năm khám bệnh của người khám để trống. Vì vậy, H nảy sinh ý đ nh mua giấy khám sức khỏe đó về bán cho những người có nhu cầu để làm hồ sơ xin việc làm tại các công ty nhằm mục đích kiếm lời. ừ tháng 7 năm 2020 đến tháng 9 năm 2020, H đã nhiều lần mua và bán lại Giấy khám sức khỏe ghi cơ sở khám sức khỏe là Bệnh viện đa khoa quốc tế Hải Phòng, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Vào khoảng giữa tháng 7 năm 2020 (không xác đ nh được ngày) H liên hệ qua ứng dụng messenger của facebook “ rân ieu hu” đặt mua 10 tờ giấy khám sức khỏe ghi tên nơi khám sức khỏe là Bệnh viện đa khoa quốc tế Hải Phòng với giá 90.000 đồng/tờ. ài khoản facebook này yêu cầu H chuyển trước 200.000 đồng tiền cọc vào số tài khoản 45210000532905 mang tên BUI HI SANG mở tại ngân hàng BIDV. H đã đồng ý và chuyển số tiền 200.000 đồng qua ứng dụng Viettelpay. Khoảng 6 ngày sau, H nhận được 10 tờ giấy khám sức khỏe có chữ ký và con dấu của các bác sỹ và giám đốc mang tên Bệnh viện đa khoa quốc tế Hải Phòng, phần ghi tên tuổi, đ a chỉ người khám, ngày khám để trống qua hình thức COD chuyển phát nhanh của Viettel và thanh toán nốt số tiền 700.000 đồng cho nhân viên giao hàng. Sau khi nhận được 10 giấy khám sức khỏe đã mua, H mang bán cho những ai có nhu cầu cần giấy khám sức khỏe để làm hồ sơ xin việc làm với giá 180.000đồng/01 tờ và đã bán hết 10 giấy khám sức khỏe thu số tiền 1.800.000 đồng. Đến nay chưa xác đ nh được tên, tuổi đ a chỉ của những người đã mua.
Lần thứ 2: Vào khoảng giữa tháng 8 năm 2020 (không xác đ nh được ngày), H tiếp tục mua 10 tờ giấy khám sức khỏe của facebook “ rân ieu hu” với giá 70.000 đồng/tờ. Khoảng 2 ngày sau khi đặt mua H nhận được 10 giấy khám sức khỏe ghi tên nơi khám sức khỏe là Bệnh viện Đa khoa quốc tế Hải Phòng qua hình thức COD chuyển phát nhanh của Viettel. H trả tiền qua nhân viên giao hàng 1.000.000 đồng, trong đó trả 700.000 đồng tiền mua giấy khám sức khỏe và 30.000 đồng phí ship, còn lại 270.000 đồng để lần sau thanh toán tiếp. H đã bán hết 10 giấy khám sức khỏe với giá 180.000 đồng/01 tờ. Cụ thể: bán cho ch Bùi h H1, sinh năm 1979, ở S, T, huyện T để làm hồ sơ xin việc cho V Việt A’, sinh năm 2004, ở thôn C, xã Q, huyện A; Nguyễn h T1, sinh năm 1980, ở thôn , xã VĩV, huyện T, tỉnh Hải Dương để làm hồ sơ xin việc cho Nguyễn h N’, sinh năm 2004 (là con gái của T1); bán cho Lê h H’, sinh năm 1980, ở thôn T, xã V, huyện T, tỉnh Hải Dương để làm hồ sơ xin việc cho Nguyễn hiện A, sinh năm 2002, ở xã V, huyện T, tỉnh Hải Dương và Phùng h Kim N, sinh năm 2005, ở thôn S, xã T, huyện T, Hải Phòng để làm hồ sơ xin việc cho Bùi Xuân T, sinh năm 2003 ở cùng thôn với N.
Lần thứ 3: Ngày 22 tháng 9 năm 2020, H tiếp tục đặt mua 20 tờ giấy khám sức khỏe với giá 50.000 đồng/tờ của facebook “ rân ieu hu”, sáng ngày 23 tháng 9 năm 2020 H chuyển số tiền 600.000 đồng tiền đặt cọc vào số tài khoản mang tên “BUI HI SANG” mở tại ngân hàng BIDV (số tài khoản 45210000532905), tuy nhiên chưa nhận được hàng do b cơ quan công an phát hiện, thu giữ điện thoại đi động.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Lão đã tiến hành thu giữ 04 giấy khám sức khỏe số 380/GKSK-BY ghi ngày 18 tháng 9 năm 2020 mang tên Nguyễn hiện A, số 352/GKSK-BY ghi ngày 8 tháng 9 năm 2020 mang tên V Việt A’, số 980/GKSK-BY ghi ngày 16 tháng 9 năm 2020 mang tên Bùi Xuân T, số 950/GKSK-BY ghi ngày 15 tháng 9 năm 2020 mang tên Nguyễn h N’ (kí hiệu là các mẫu A1 đến A4) và thu giữ mẫu chữ ký, dấu chức danh của ông Nguyễn hanh H - Giám đốc điều hành Bệnh viện đa khoa Quốc tế Hải Phòng, mẫu dấu "BỆNH VIỆN ĐA KHOA QUỐC Ế HẢI PHÒNG" (ký hiệu mẫu M1), mẫu chữ viết, chữ ký của Nguyễn hiện A (ký hiệu mẫu M2), V Việt A’ (ký hiệu mẫu M3), Bùi Xuân T (ký hiệu mẫu M4), Nguyễn h N’ (ký hiệu mẫu M5), rần h hanh H (ký hiệu mẫu M6 đến M9), Phùng h Kim N (ký hiệu mẫu M10), Nguyễn h T (kí hiệu mẫu M11).
ại bản giám đ nh số 04/KLGĐ-PC09 ngày 18/01/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận:
“+ Hình dấu tròn có nội dung "BỆNH VIỆN ĐA KHOA QUỐC Ế HẢI PHÒNG" trên các tài liệu cần giám đ nh ký hiệu từ A1 đến A4 so với hình dấu tròn có cùng nội dung trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1 không phải do cùng một con dấu đóng ra.
+ Hình dấu chức danh "GIÁM ĐỐC ĐIỀU HÀNH Nguyễn hanh H" trên các tài liệu cần giám đ nh từ mẫu A1 đến A4 so với hình dấu tròn trên mẫu M1 không phải do cùng 01 con dấu đóng ra.
+ Chữ ký mang tên Giám đốc điều hành Nguyễn hanh H trên các tài liệu cần giám đ nh ký hiệu từ A1 đến A4 so với chữ ký của ông Nguyễn hanh H trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu mẫu M1 không phải do cùng một ngƣời ký ra.
+ Chữ viết, chữ ký trên trang 1 tài liệu cần giám đ nh ký hiệu A1 (trừ chữ "380" ở dòng chữ viết thứ nhất và các chữ "Hải Phòng, 18,9,2020" ở dòng chữ viết thứ 7 tính từ trên xuống) so với chữ viết, chữ ký của người mang tên Nguyễn hiện A trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M2 là chữ viết, chữ ký của cùng một ngƣời.
+ Chữ "380" ở dòng chữ viết thứ nhất và các chữ "Hải Phòng, 18, 19, 2020" ở dòng viết thứ 7 tính từ trên xuống tại trang 1 tài liệu cần giám đ nh ký hiệu A1 so với chữ viết của những người mang tên Nguyễn hiện A, rần h hanh H trên các tài liệu mẫu so sánh không đủ cơ sở đánh giá kết luận.
- Chữ viết, chữ ký trên trang 1 tài liệu cần giám đ nh ký hiệu A2 so với chữ viết, chữ ký của người mang tên V Việt A’ trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M3 không phải chữ viết, chữ ký của cùng một ngƣời.
- Chữ viết, chữ ký trên trang 1 tài liệu cần giám đ nh ký hiệu A3 so với chữ viết, chữ ký của người mang tên Bùi Xuân T trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M4 không phải chữ viết, chữ ký của cùng một ngƣời.
- Chữ viết, chữ ký trên trang 1 tài liệu cần giám đ nh ký hiệu A2, A3 so với chữ viết, chữ ký của người mang tên rần h hanh H trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu từ M6 đến M9 không đủ cơ sở đánh giá kết luận.
- Chữ viết, chữ ký trên trang 1 tài liệu cần giám đ nh ký hiệu A3 so với chữ viết, chữ ký của người mang tên Phùng h Kim N trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M10 không phải chữ viết, chữ ký của cùng một ngƣời.
- Chữ viết trên trang 1 tài liệu cần giám đ nh ký hiệu A4 (trừ chữ "950" ở dòng thứ viết thứ nhất, các chữ "Lao Động" ở dòng viết thứ 4 và các chữ "Hải Phòng, 15, 9, 2020" ở dòng viết thứ 5 tính từ trên xuống) so với chữ viết của người mang tên Nguyễn h T trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M11 là chữ viết của cùng một ngƣời.
- Chữ "950" ở dòng thứ viết thứ 1, các chữ "Lao Động" ở dòng viết thứ 4 và các chữ "Hải Phòng, 15, 9, 2020" ở dòng viết thứ 5 tính từ trên xuống tại trang 1 tài liệu cần giám đ nh ký hiệu A4 so với chữ viết của những người mang tên Nguyễn h N’, rần h hanh H, Nguyễn h T trên các tài liệu mẫu so sánh không đủ cơ sở đánh giá kết luận”.
ại bản Cáo trạng số 21/CT-VKS ngày 14 tháng 4 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng truy tố b cáo rần h hanh H về tội " Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức" theo điểm b khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự.
rong lời luận tội, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố b cáo như nội dung bản cáo trạng đã nêu và đề ngh : Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 341; điểm s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt: rần h Thanh H từ 24 đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội "Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức", thời gian thử thách từ 48 đến 60 tháng. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với b cáo
Về biện pháp tư pháp: Buộc b cáo phải nộp lại phải nộp lại 720.000 đồng để sung quỹ Nhà nước.
B cáo không tranh luận với Kiểm sát viên. ại lời nói sau cùng b cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và xin được cải tạo ngoài xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
rên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận đ nh như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết đ nh tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện An Lão, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Lão, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy đ nh của Bộ luật ố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, b cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết đ nh của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết đ nh tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: ại phiên tòa b cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng, lời khai nhận tội của b cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của b cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của các đối tượng đã mua giấy khám sức khỏe của b cáo, vật chứng thu giữ, phù hợp với kết luận giám đ nh, cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện: rong khoảng thời gian từ tháng 7 đến tháng 9 năm 2021, thông qua mạng xã hội Facebook, b cáo có hành vi mua của một người không quen biết có tài khoản mang tên " rân ieu hu" một số tờ giấy khám sức khỏe đã điền đầy đủ nội dung khám và đóng dấu giả của Bệnh viện đa khoa quốc tế Hải Phòng nhưng chưa viết thông tin người khám nhằm mục đích bán lại cho những người có nhu cầu sử dụng để kiếm lời. ại kết luận giám đ nh số 04/KLGĐ-PC09 ngày 18 tháng 01 năm 2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận chữ ký giám đốc bệnh viện và con dấu trên giấy khám sức khỏe là giả. Quá trình điều tra cơ quan điều tra đã chứng minh được b cáo có hành vi 04 lần bán Giấy khám sức khỏe giả cho Nguyễn hiện A, V Việt A’, Bùi Xuân T, Nguyễn h N’ để nộp hồ sơ xin việc vào xí nghiệp giày Hàng Kênh tại xã Quốc uấn, huyện An Lão, Hải Phòng với giá 180.000 đồng/ tờ, thu được số tiền 720.000 đồng. Do đó, có đủ căn cứ kết luận hành vi của b cáo rần h hanh H phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo Điều 341 Bộ luật Hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Về tình tiết đ nh khung hình phạt: Mặc dù b cáo khai đã có hành vi đặt mua 40 tờ giấy khám sức khỏe qua mạng xã hội Facebook, đã nhận và bán được 20 tờ. uy nhiên, quá trình điều tra, truy tố, xét xử chưa làm rõ được người bán và người mua giấy khám sức khỏe theo lời khai của b cáo. Vì vậy, chỉ đủ căn cứ kết luận b cáo đã có hành vi bốn lần bán Giấy khám sức khỏe giả của Bệnh viện đa khoa quốc tế Hải Phòng cho Nguyễn hiện Ánh, V Việt Anh, Bùi Xuân hành, Nguyễn h Nga để nộp hồ sơ xin việc vào xí nghiệp giày Hàng Kênh nên b cáo b xét xử theo điểm b khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự.
Hành vi phạm tội của b cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức trong lĩnh vực quản lý hành chính Nhà nước về thủ tục cấp Giấy khám sức khỏe, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại đ a phương, gây tâm lý lo lắng cho quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần phải xét xử nghiêm.
-Về hình phạt:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: B cáo không phải ch u tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội b cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bản thân b cáo đang có thai và nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi; b cáo có ông ngoại là người có công với cách mạng được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì trong kháng chiến chống Mỹ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy đ nh tại điểm s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét, b cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng; được gia đình làm đơn xin bảo lãnh có xác nhận của chính quyền đ a phương, bản thân b cáo đang có thai và nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi. Mặt khác, theo xác nhận của xí nghiệp giày Hàng Kênh thì hành vi của b cáo c ng chưa gây ảnh hưởng gì cho hoạt động sản xuất của xí nghiệp. Vì vậy, xét thấy không cần thiết phải cách ly b cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cần áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho b cáo được hưởng án treo c ng đủ tác dụng giáo dục b cáo và phòng ngừa chung, đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Do b cáo không có tài sản riêng, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, hiện đang có thai và nuôi con nhỏ nên Hội đồng xét xử miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với b cáo.
ại cơ quan điều tra và tại phiên tòa mặc dù b cáo khai đã bán được 20 tờ giấy khám sức khỏe với giá 180.000đ/tờ, tuy nhiên Hội đồng xét xử mới làm rõ được việc b cáo bán 04 tờ giấy khám sức khỏe cho các anh Nguyễn hiện A, V Việt A’, Bùi Xuân T, ch Nguyễn h N’. Vì vậy, chỉ có căn cứ xác đ nh b cáo đã mua giấy khám sức khỏe trái phép và bán ra với giá 180.000 đồng/tờ, thu được số tiền 720.000 đồng. Xét toàn bộ số tiền trên b cáo có được là do phạm tội mà có nên cần buộc b cáo phải nộp lại để sung quỹ Nhà nước.
Về án phí: B cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy đ nh của pháp luật.
Đối với Bùi h H’, Phùng h Kim N, Lê h H1, Nguyễn h T, Nguyễn h N’, Bùi Xuân T, Nguyễn hiện A, V Việt A’ là những người mua, sử dụng giấy khám sức khỏe của H chỉ nhằm mục đích làm hồ sơ xin việc, Xí nghiệp giày Hàng Kênh đã phát hiện ra ngay khi các đối tượng nộp hồ sơ và không gây thiệt hại gì đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của xí nghiệp nên Cơ quan điều tra không khởi tố là có căn cứ.
Đối với việc rần h hanh H khai đã bán16 tờ giấy khám sức khỏe giả nhưng không nhớ rõ bán cho ai và 20 tờ H khai đã đặt mua nhưng chưa nhận được, hiện chưa xác đ nh được người bán, người mua và chưa thu giữ được nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Lão tách ra tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.
Đối với tài khoản facebook “ rân ieu hu” hiện chưa xác đ nh được là ai; chủ tài khoản ngân hàng mang tên BUI HI SANG qua xác minh là Bùi
h S, sinh ngày 02 tháng 6 năm 1987, ĐKHK : hôn X, xã T, huyện T, Hà Nội. Xác minh tại gia đình, hiện S không có mặt tại đ a phương, không liên lạc với gia đình. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Lão tách ra, tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau là có căn cứ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về hình phạt:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 341; điểm s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt: rần h hanh H: 24 (hai mươi tư) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. hời gian thử thách 48 (bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Giao b cáo rần h hanh H cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
rong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy đ nh tại khoản 3 Điều 92 của Luật hi hành án hình sự năm 2019.
rong thời gian thử thách, tại đ a phương b cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ công dân 02 lần trở lên thì òa án có thể quyết đ nh chuyển án treo thành tù giam, buộc b cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Căn cứ Điều 125 Bộ luật ố tụng hình sự, tuyên hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với b cáo rần h hanh H.
2. Về biện pháp tƣ pháp: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự: Buộc b cáo rần h hanh H phải nộp lại 720.000 đ (bảy trăm hai mươi nghìn đồng) để sung quỹ Nhà nước.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật ố tụng hình sự và Ngh quyết 326/2016/UB VQH14 ngày 30 ngày 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí òa án: B cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: B cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
5. Về quyền yêu cầu thi hành: rường hợp bản án được thi hành theo quy đ nh tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc b cưỡng chế thi hành án theo quy đ nh tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật hi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy đ nh tại Điều 30 Luật hi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - òa án nhân dân P. Hải Phòng; - VKSND TP. Hải Phòng; - PV06 Công an P. Hải Phòng; - Sở ư pháp P. Hải Phòng; - Công an huyện An Lão; Cơ quan THA hình sự CA huyện An Lão; - Viện kiểm sát nhân dân huyện An Lão; - Chi cục HADS huyện An Lão; - B cáo; - Lưu: HS, HC P. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Thanh Vân |