vanban.org

Bản án 19/2021/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Ninh Thuận Tuyên án 13/04/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 13/04/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Huỳnh P (Cu L) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Huỳnh P (Cu L) 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt từ tính từ ngày 09/9/2020. Về án phí: Bị cáo Huỳnh P (Cu L) phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Huynh P phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Huỳnh P (Cu L) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2021/HS-PT
Ngày: 13 - 4 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hưng Dũng

Các Thẩm phán:

Ông Lâm Bách

Bà Phạm Thị Anh Trang

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thành là thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hòa Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 4 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 27/2021/TLPT-HS ngày 09 tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo Huỳnh P do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 23/2021/HSST ngày 29 tháng 01 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

Bị cáo có kháng cáo: Huỳnh P (Cu L), sinh năm 1993 tại Ninh Thuận. Nơi cư trú: Khu phố X, phường Đ, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh S (chết) và bà Nguyễn Thị L; sống chung như vợ chồng với Lê Thị T và có 01 người con.

Tiền án: + Ngày 18/7/2013 bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang-Tháp Chàm xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”;

+ Ngày 16/3/2015 bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm xử phạt 16 tháng tù về tội “Trốn khỏi nơi giam;

+ Ngày 24/3/2015 bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Tổng hợp hình phạt của bản án số 12/2015/HSST ngày 16/3/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang-Tháp Chàm với bản án số 19/2015/HSST ngày 24/3/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm là 04 năm 10 tháng tù, chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/9/2019.

Tiền sự: Không;

Nhân thân: + Ngày 09/10/2007, bị Chủ tịch UBND thị xã Phan Rang – Tháp Chàm ra quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, ngày 02/9/2009, chấp hành xong quyết định.

+ Ngày 18/3/2010 bị Chủ tịch UBND phường Đô Vinh ra quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã thời hạn 06 tháng về hành vi trộm cắp tài sản;

+ Ngày 25/8/2010 bị Công an phường Đài Sơn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 75.000 đồng về hành vi trộm cắp vặt;

+ Ngày 20/12/2010 bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang-Tháp Chàm xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”;

+ Ngày 13/4/2011 bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang-Tháp Chàm xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo bị bắt từ ngày 09/9/2020, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận (có mặt).

Những người bị hại không kháng cáo, không triệu tập:

1. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1985. Nơi cư trú: Khu phố A, phường Đ thành phố P, tỉnh Ninh Thuận.

2. Chị Nguyễn Thị Thúy V, sinh năm 2001. Nơi cư trú: Khu phố X, phường P, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận.

3. Chị Trần Thị H, sinh năm 1993. Nơi cư trú: Xã Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh.

4. Bà Nguyễn Thị Kim A, sinh năm 1964. Nơi cư trú: Khu phố X, phường Đ, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ ngày 15/6/2020 đến ngày 18/8/2020, bị cáo P đã thực hiện nhiều vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 02 giờ ngày 15/6/2020, bị cáo đi bộ tìm nhà dân sơ hở để trộm cắp tài sản. Khi đến trước nhà bà Nguyễn Thị H ở Khu phố X, phường Đ, nhìn thấy cửa nhà không khóa, bị cáo leo qua hàng rào đi vào trong nhà lấy 01 điện thoại di động hiệu OPPO F11, màu xanh dương, 01 túi xách màu nâu bên trong có 01 ví màu nâu, 01 lắc tay bằng vàng 18k số tiền 12.000.000 đồng, 02 cuốn vở, 01 giấy chứng minh nhân dân, 01 thẻ bảo hiểm y tế, 02 thẻ ngân hàng ATM của bà H rồi theo đường cũ ra khỏi nhà. Sau đó, bị cáo đi đến khu vực cầu An Đông vứt bỏ 01 túi xách màu nâu, 01 ví màu nâu, 02 cuốn vở, 01 giấy chứng minh nhân dân, 01 thẻ bảo hiểm y tế, 02 thẻ ngân hàng ATM. Bị cáo đã bán 01 điện thoại di động hiệu OPPO F11, màu xanh dương cho một người đàn ông với số tiền 2.000.000 đồng. Riêng 01 lắc tay bằng vàng 18K bị cáo đã làm rơi mất. Số tiền trộm cắp được, bị cáo đã tiêu xài cá nhân hết.

Tại Biên bản định giá tài sản số 93/BBĐG ngày 10/9/2020, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Phan Rang – Tháp Chàm kết luận: 01 điện thoại di động Oppo F11, màu xanh dương có giá trị thực là 4.500.000 đồng; 01 lắc tay bằng vàng 18K có giá trị thực là 10.000.000 đồng; 01 túi xách màu nâu, không thu hồi được có giá trị thực là 1.000.000 đồng; 01 chiếc ví màu nâu có giá trị thực là 300.000 đồng.

Vụ thứ hai: Khoảng 02 giờ ngày 10/8/2020, bị cáo đi bộ đến phường P tìm nhà dân sơ hở để trộm cắp tài sản. Khi đến trước số nhà 15, đường N9 ở Khu phố X, phường P thì nhìn thấy trên lầu không khóa cửa, bị cáo leo lên lầu đi vào bên trong phòng ngủ nhìn thấy chị Nguyễn Thị Thúy V, Nguyễn Thị Ngọc A, Trần Thị H đang nằm ngủ. Bị cáo lấy 01 ví màu đen bên trong có 1.000.000 đồng, 01 chứng minh nhân dân, 02 thẻ ngân hàng ATM của chị Vy và 01 điện thoại di dộng hiệu Oppo F3 màu hồng của Trần Thị H bỏ vào túi quần rồi đi xuống tầng trệt, thấy 01 xe mô tô hiệu Air Blade biển số 85E1-10165 cắm sẵn chìa khóa trên xe, bị cáo mở cốp xe lấy 01 sợi dây chuyền bằng vàng trắng, trọng lượng 01 chỉ bỏ vào túi quần rồi theo đường cũ ra khỏi nhà. Sau đó, bị cáo đưa 01 điện thoại di động hiệu Oppo F3 màu hồng cho bạn gái là Lê Thị T. Riêng sợi dây chuyền bằng vàng trắng, 01 ví màu đen, 02 thẻ ngân hàng ATM, bị cáo đã làm mất. Số tiền trộm cắp được, bị cáo đã tiêu xài hết.

Tại Biên bản định giá tài sản số 93/BBĐG ngày 10/9/2020, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Phan Rang – Tháp Chàm kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Oppo F3 màu hồng, bị trầy góc màn hình có giá trị thực là 1.200.000 đồng; 01 sợi dây chuyền bằng vàng trắng 01 chỉ, kiểu mắt xích có giá trị thực có là 5.000.000 đồng.

Vụ thứ ba: Khoảng 02 giờ ngày 18/8/2020, bị cáo đến nhà bà Nguyễn Thị Kim A ở khu phố X, phường Đô Vinh leo vào trong nhà đến chỗ treo quần áo lấy 01 cái ví, bên trong có 01 chiếc nhẫn vàng 18K, trọng lượng 1,6 chỉ có đính hạt màu mắt mèo, 01 chiếc nhẫn vàng 18k, trọng lượng 1,7 chỉ có đính hạt đá màu trà xung quanh, số tiền 1.400.000 đồng ở trong túi áo khoác rồi theo đường cũ ra khỏi nhà. Sau đó, bị cáo bán 02 chiếc nhẫn cho 01 người đàn ông (chưa rõ lai lịch) với số tiền 3.000.000 đồng. Riêng cái ví bị cáo đã vứt bỏ. Số tiền trộm cắp được, bị cáo tiêu xài hết.

Tại Biên bản định giá tài sản số 113/BBĐG ngày 27/10/2020, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Phan Rang-Tháp Chàm kết luận: 01 chiếc nhẫn vàng 18K, trọng lượng 1,6 chỉ, có đính hạt màu mắt mèo có giá trị thực là 3.000.000 đồng; 01 chiếc nhẫn vàng 18K, trọng lượng 1,7 chỉ, có đính hạt đá màu trà xung quanh trị giá 3.000.000 đồng.

Tại giai đoạn điều tra, bị cáo và những người bị hại đã thỏa thuận được việc bồi thường thiệt hại.

Đối với Lê Thị T là người đã nhận điện thoại hiệu Oppo F3 màu hồng của bị cáo Pđưa để sử dụng nhưng không biết đây là tài sản do trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý hình sự.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 23/2021/HSST ngày 29 tháng 01 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận quyết định:

Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173, điểm g khoản 1 Điều 52, các điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Huỳnh P (Cu L) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Huỳnh P (Cu L) 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt từ tính từ ngày 09/9/2020.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 04/02/2021, bị cáo Huỳnh P kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo P giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận:

+ Về hình thức kháng cáo: Đúng hình thức và trong hạn luật định nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

+ Về nội dung kháng cáo: Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Huỳnh P 04 năm tù là phù hợp. Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ mới nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Bị cáo Huỳnh P kháng cáo đúng quy định tại các Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên vụ án được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Huỳnh P đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, cụ thể như sau: Trong thời gian từ ngày 15/6/2020 đến ngày 18/8/2020, tại địa bàn thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, bị cáo P đã 03 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của bà Nguyễn Thị H, chị Nguyễn Thị Thúy V, chị Trần Thị H và bà Nguyễn Thị Kim A với tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 42.400.000 đồng. Bị cáo là người đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị cáo P phạm tội “trộm cắp tài sản” thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

Xét đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo P: Bị cáo P có nhân thân xấu và có nhiều tiền án về tội “trộm cắp tài sản”, không lấy đó làm bài học cho mình mà lại tiếp tục nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với tổng giá trị chiếm đoạt là 42.400.000 đồng. Bị cáo phạm tội với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội nhiều lần”. Do đó cần thiết phải có một mức án nghiêm khắc để răn đe giáo dục bị cáo cũng như có tác dụng phòng ngừa tội phạm chung.

Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo P: Thành khẩn khai báo; tự thú về hành vi trộm cắp tài sản ngày 15/6/2020 và ngày 18/8/2020, xử phạt bị cáo P 04 năm tù là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi và nhân thân của bị cáo.

Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo P không có tình tiết giảm nhẹ mới nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không có cơ sở chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, giữ nguyên mức án của bản án sơ thẩm như quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận tại phiên tòa.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh P (Cu L). Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 23/2021/HSST ngày 29/01/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

- Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173, điểm g khoản 1 Điều 52, các điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Huỳnh P (Cu L) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Huỳnh P (Cu L) 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt từ tính từ ngày 09/9/2020.

- Về án phí: Bị cáo Huỳnh P (Cu L) phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 13/4/2021./.

Cỡ chữ