- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trinh - Thông"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Toà án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN Bản án số: 19/2021/HNGĐ-ST Ngày: 25/02/2021 V/v: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NUỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Thái Bình.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Bính, bà Lê Thị Kiều Thu
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Lê Thảo Nguyên – Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tp Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Bà Trương Thị Mỹ Thuận – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 02 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 568/2020/TLST-HNGĐ ngày 28/10/2020, về việc: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2021/QĐST-HNGĐ ngày 05/01/2021, Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2021/QĐST-HNGĐ ngày 25/01/2021, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: bà Kiều Thị Tr, sinh năm 1998; (có mặt)
Địa chỉ: xóm 10, thôn 5, xã Hàm Đức, Hàm Thuận Bắc, Bình Thuận.
2. Bị đơn: ông Nguyễn Hoài Th, sinh năm 1996 (vắng mặt);
Địa chỉ: khu phố 2, phường Hưng Long, tp Phan Thiết, Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 22/10/2020, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà sơ thẩm, nguyên đơn là bà Kiều Thị Tr trình bày:
Bà Kiều Thị Tr và ông Nguyễn Hoài Th tự tìm hiểu và tự nguyện kết hôn có đăng ký kết hôn vào năm 2019 tại Ủy ban nhân dân phường Hưng Long, tp Phan Thiết, Bình Thuận. Giấy chứng nhận kết hôn số 34/2019 ngày 07/3/2019.
Quá trình chung sống với nhau thường xuyên cải vả, xãy ra nhiều mâu thuẩn, không có tiếng nói chung. Bà Tr trình bày ông Th không lo làm ăn, đổ trách nhiệm cho bà. Bà Tr đã cố gắng để tiếp tục duy trì hôn nhân nhưng mâu thuẩn ngày càng nặng hơn. Từ đầu tháng 6/2020 cho đến nay hai người không còn chung sống nữa, bà Tr dẫn con về Hàm Đức, Hàm Thuận Bắc sống. Nay bà Tr thấy tình cảm vợ chồng không còn, đã không còn ở với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà làm đơn yêu cầu ly hôn ông Th.
Về con chung: bà Tr và ông Th có con chung là cháu Nguyễn Ngọc Kiều Trân, sinh ngày 20/12/2018, hiện bà Tr đang nuôi dưỡng. Khi ly hôn, bà Tr yêu cầu được nuôi cháu Trân, không yêu cầu ông Th phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Tr không yêu cầu Tòa giải quyết.
Bị đơn là ông Nguyễn Hoài Th có hộ khẩu và nơi ở tại thôn khu phố 2, phường Hưng Long, tp Phan Thiết. Tòa án đã tiến hành tống đạt trực tiếp giấy triệu tập và các văn bản tố tụng nhưng không thực hiện được vì ông Th thường xuyên vắng nhà. Tòa án đã niêm yết đầy đủ giấy triệu tập và các văn bản tố tụng theo luật định. Ông Th không đến Tòa làm việc, không có văn bản trình bày ý kiến và vắng mặt tại các phiên tòa không có lý do.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và HĐXX là đúng trình tự thủ tục pháp luật quy định. Đề nghị chấp nhận khởi kiện của nguyên đơn, giải quyết cho ly hôn và giao con chung cho nguyên đơn nuôi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Yêu cầu ly hôn, nuôi con của bà Kiều Thị Tr là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Ông Nguyễn Hoài Th đã được Tòa án niêm yết giấy triệu tập và các văn bản tố tụng khác theo luật định để làm việc và tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử.
Về nội dung: Xét yêu cầu ly hôn của bà Tr, Hội đồng xét xử xét thấy: Bà Tr và ông Th quá trình chung sống với nhau thường xuyên cải vả, xãy ra nhiều mâu thuẩn, không có tiếng nói chung, không thể chung sống với nhau được, bà Tr khai ông Th không có trách nhiệm làm ăn, không lo lắng cho gia đình. Hai người đã ly thân nhưng vẫn không hàn gắn và không còn quan tâm đến nhau. Quá trình giải quyết, Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông Th lên làm việc và hòa giải nhưng ông Th vắng mặt. Điều đó cho thấy tình cảm quan hệ vợ chồng giữa bà Tr và ông Th đã không còn, ông Th không có thiện chí hàn gắn hạnh phúc, mâu thuẫn đã trở nên trầm trọng, không còn sống chung, không còn quan tâm đến nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Tr.
Về con chung: Xét yêu cầu giải quyết việc nuôi con của bà Tr, bà Tr yêu cầu được nuôi con chung là cháu Nguyễn Ngọc Kiều T, sinh ngày 20/12/2018, không yêu cầu ông Th cấp dưỡng nuôi con. Hiện bà Tr đang nuôi cháu Trân, quá trình giải quyết vụ án ông Th không đến Tòa, không có ý kiến về việc nuôi con, đồng thời cháu Trân cũng chưa đủ 36 tháng tuổi. Do đó HĐXX chấp nhận giao con chung cho bà Tr nuôi. Bà Tr không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX không xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Tr và ông Th không yêu cầu nên Tòa không xem xét giải quyết.
Về án phí: bà Tr là nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo luật định.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
- Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 51, 56, 58 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Kiều Thị Tr. Bà Kiều Thị Tr được ly hôn ông Nguyễn Hoài Th.
2. Về con chung: Giao cho bà Kiều Thị Tr trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Ngọc Kiều T, sinh ngày 20/12/2018, ông Th có trách nhiệm giao cháu Trân cho bà Tr nuôi dưỡng. Ông Th được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.
3. Về án phí: bà Kiều Thị Tr phải nộp 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn. Bà Tr đã nộp đủ tiền án phí theo biên lai thu tạm ứng số 0008096 ngày 28/10/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết.
Trường hợp bản án có hiệu lực được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (25/02/2021). Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: -VKS tp Phan Thiết; -THA tp Phan Thiết; -Nơi thực hiện việc ĐKKH -Đương sự; -Lưu. | TM, HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa PHẠM THÁI BÌNH |