vanban.org

Bản án 19/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015

Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị Thu H được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng M. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH THỦY
TP. CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2021/HNGĐ-ST
Ngày 26/3/2021
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY, TP. CẦN THƠ

- THnh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Lý Thanh Bình.

2/ Bà Cao Thị Ngọc Hà.

Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Giang – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thủy.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thủy: Bà Tô Nguyễn Mộng Lành – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 3 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, tHnh phố Cần Thơ xét xử công khai vụ án thụ lý số 452/2020/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 12 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 136/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 3 năm 2021 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Lê Thị Thu H, sinh năm 1976.

Địa chỉ: CT, CĐ, CT, AG

* Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng M, sinh năm 1971.

Địa chỉ: KV1, BT, BT, CT

Bà H có mặt, ông M vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn là bà Lê Thị Thu H trình bày:

Bà và ông Nguyễn Hoàng M qua tìm hiểu và tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Bình Thủy, thành phố Cần Thơ, tỉnh Cần Thơ (cũ) vào ngày 23/6/2003. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2015 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cự cãi, ông M còn hay ghen tuông, đe dọa và chửi mắng bà, mặc dù bà đã cố gắng khuyên can nhưng không có kết quả. Nhận thấy, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể tiếp tục. Nay, bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng M.

- Về con chung: Bà và ông M có một con chung tên Nguyễn Gia K (nam), sinh ngày 25/12/2003. Khi ly hôn bà yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông Nguyễn Hoàng M nhiều lần để hòa giải và giải quyết theo thủ tục chung nhưng phía bị đơn ông M vắng mặt. Tòa án đã tống đạt và niêm yết các thủ tục giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay, bà Lê Thị Thu H có mặt và vẫn giữ nguyên ý kiến xin ly hôn với ông Nguyễn Hoàng M, về con chung bà yêu cầu được tiếp tục nuôi con tên Nguyễn Gia K, bà không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Phía ông Nguyễn Hoàng M mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, những người tham gia tố tụng chấp Hnh pháp luật kể từ khi thụ lý cũng như tại phiên toà. Toà án đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về thẩm quyền giải quyết, tư cách những người tham gia tố tụng.

Về việc giải quyết vụ án hôn nhân giữa bà Lê Thị Thu H và ông Nguyễn Hoàng M có đăng ký kết hôn nên đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ, trong quá trình chung sống bà H và ông M phát sinh mâu thuẫn không thể Hn gắn được nên bà H có đơn yêu cầu xin ly hôn. Phía ông M mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần để hòa giải, công khai chứng cứ và tham gia phiên tòa theo quy định của pháp luật nhưng ông M đều vắng mặt, cho thấy ông M cũng không còn quan tâm đến quan hệ hôn nhân với bà H nữa, do đó yêu cầu ly hôn của bà H là có cơ sở xem xét. Về con chung bà H và ông M có một con chung tên Nguyễn Gia K (nam), sinh ngày 25/12/2003. Khi ly hôn bà H yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, bà không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con. Nhận thấy, cháu K đã 17 tuổi, hiện nay cháu K vẫn có yêu cầu được tiếp tục chung sống với bà H do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận để bà H tiếp tục nuôi con, về cấp dưỡng bà H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung và nợ chung: tách ra giải quyết thành vụ án khác khi đương sự có yêu cầu. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết, thủ tục tố tụng: Theo đơn khởi kiện của bà Lê Thị Thu H yêu cầu xin ly hôn với ông Nguyễn Hoàng M, yêu cầu nuôi con chung nên đây là vụ án ly hôn, nuôi con giữa công dân với công dân thuộc ngành Luật hôn nhân và gia đình điều chỉnh. Do ông M hiện nay đang sinh sống thường trú tại số KV1, BT, BT, CT nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thủy theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Bị đơn ông Nguyễn Hoàng M đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án tiến Hnh xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Xét về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Thu H và ông Nguyễn Hoàng M tự nguyện tiến tới quan hệ hôn nhân và có đăng ký kết hôn hợp pháp vào ngày 23/6/2003 tại Ủy ban nhân dân phường Bình Thủy, thành phố Cần Thơ, tỉnh Cần Thơ (cũ) nên đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Bà H và ông M chung sống hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng thường xuyên cự cãi, bất đồng quan điểm sống, ông M hay ghen tuông, mắng chửi bà H, mặc dù bà H đã cố gắng khuyên bảo ông M nhưng không có kết quả. Nay, bà H cho rằng không còn tình cảm với ông M nên bà cương quyết ly hôn. Phía ông M mặc dù đã được triệu tập hợp lệ những vẫn vắng mặt cho thấy ông M cũng không còn quan tâm đến quan hệ hôn nhân với bà H. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lê Thị Thu H.

Về con chung: Bà H khai nhận bà và ông M có một con chung tên Nguyễn Gia K (nam), sinh ngày 25/12/2003. Khi ly hôn bà H yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung. Nhận thấy, cháu K hiện nay đã 17 và có nguyện vọng được chung sống với mẹ do đó Hội đồng xét xử chấp nhận để bà H tiếp tục nuôi con. Hội đồng xét xử dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung ông M, không ai được quyền ngăn cản ông M thực hiện quyền này.

Vì lợi ích của con, cha mẹ có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về cấp dưỡng: Bà H không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà H khai nhận là không có nhưng do ông M vắng mặt do đó Hội đồng xét xử tách ra giải quyết tHnh vụ kiện khác khi các đương sự có yêu cầu và có đủ cơ sở chứng M.

Về án phí: Nguyên đơn phải nộp án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39, Điều 147, 227, 228, 273 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Điều 51,56, 69,71,81,82,83 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015

Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị Thu H được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng M.

- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Gia K (nam), sinh ngày 25/12/2003 cho bà Lê Thị Thu H tiếp tục nuôi dưỡng, không buộc ông Nguyễn Hoàng M cấp dưỡng nuôi con.

Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho ông M, không ai được quyền cản trở ông M thực hiện quyền này.

Vì lợi ích của con cha mẹ có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Tách ra giải quyết thành vụ kiện khác khi các đương sự có yêu cầu.

- Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Nguyên đơn bà Lê Thị Thu H phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng). Chuyển tiền đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 004941 ngày 16/12/2020 thành án phí hôn nhân sơ thẩm. Đương sự đã nộp đủ tiền án phí.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn được quyền kháng cáo, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương bị đơn được quyền kháng cáo để xin xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi ành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014.

*Nơi nhận:

Cỡ chữ