- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị Thu S "Ly hôn" Nguyễn Văn L"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc xin ly hôn của bà Phạm Thị Thu S với ông Nguyễn Văn L.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH HƯNG TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2021/HNGĐ-ST Ngày: 15-11-2021. “V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH HƯNG
TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Trọng Nhân.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Bùi Đức Hảo;
2. Bà Nguyễn Thị Kim Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thái Hưng – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Hưng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân thụ lý số: 38/2021/TLST-HNGĐ ngày 01/4/2021 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 01/10/2021, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Thu S, sinh năm 1993 (Có mặt).
Địa chỉ: ấp G, xã Kh, huyện V, tỉnh Long An.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1989 (Vắng mặt).
Địa chỉ: ấp B, xã Kh, huyện V, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và những lời khai tiếp theo của nguyên đơn, bà Phạm Thị Thu Sương trình bày:
Được sự đồng ý của hai bên gia đình, bà và ông L có tổ chức lễ cưới vào năm 2012 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Khánh Hưng ngày 18/4/2012. Sau ngày cưới bà và ông L về sinh sống tại ấp Gò Châu Mai, xã Khánh Hưng, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An. Trước khi cưới, bà và ông L đã sống chung với nhau và có được 01 con chung tên Nguyễn Phạm Hoài Ân, sinh ngày 14/01/2011. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, tuy nhiên, thời gian sau vợ chồng phát sinh mâu thuẫn xuất phát từ việc ông Lượm nhậu nhẹt bê tha, không lo làm ăn phụ giúp gia đình mà còn hay về gây gỗ đánh đập bà. Gia đình hai bên khuyên nhủ nhiều lần nhưng không có kết quả, mâu thuẩn trên ngày càng nghiêm trọng, đến tháng 3 năm 2021 vợ chồng sống ly thân nhau, ông L bỏ về ấp Bàu Sen, xã Khánh Hưng sinh sống cho đến nay. Nay xét thấy tình cảm bà và ông Lượm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn L.
Về con chung: Trong quá trình chung sống bà và ông Lượm có được 01 con chung tên Nguyễn Phạm Hoài Â, sinh ngày 14/01/2011, hiện đang sống với bà. Nếu ly hôn bà yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Â, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Phạm Thị Thu S xác định bà và ông Nguyễn Văn L không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Nguyễn Văn L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ lần thứ hai thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông Nguyễn Văn L vẫn vắng mặt không có lý do.
Vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng. Về nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên Tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Thu S.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An đã tống đạt hợp lệ lần thứ hai giấy báo phiên tòa nhưng ông Nguyễn Văn L vẫn không đến Tòa án. Căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt ông Nguyễn Văn L.
Quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngày 26/3/2021, bà Phạm Thị Thu S có đơn yêu cầu Toà án nhân dân huyện Vĩnh Hưng chấp nhận cho đương sự được ly hôn với ông Nguyễn Văn L. Đây là vụ án Hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án. Do ông L cư trú tại huyện Vĩnh Hưng, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn bà Phạm Thị Thu S yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn L vì nhận thấy rằng mâu thuẫn giữa bà và ông L không thể giải quyết, tình cảm vợ chồng không còn, khả năng đoàn tụ vợ chồng không có, mục đích hôn nhân không đạt được.
Xét, hôn nhân giữa bà Phạm Thị Thu S và ông Nguyễn Văn L có đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã Khánh Hưng, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 18/4/2012 đây là hôn nhân hợp pháp, sẽ được giải quyết theo quy định của luật Hôn nhân và gia đình.
Xét thấy, Tòa án đã tống đạt hợp lệ đến lần thứ hai Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho ông L, tống đạt hợp lệ đến lần thứ hai giấy báo phiên tòa theo đúng thủ tục luật định nhưng ông Nguyễn Văn L vẫn không đến Tòa án là không còn quan tâm đến quan hệ hôn nhân này. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của bà Phạm Thị Thu S là có cơ sở chấp nhận.
Về nuôi con chung: Trong quá trình sống chung, bà Phạm Thị Thu S và ông Nguyễn Văn L có được 01 con chung tên Nguyễn Phạm Hoài Â, sinh ngày 14/01/2011, hiện đang theo sống với bà S. Nếu ly hôn bà S yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Â, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con chung. Yêu cầu của bà S cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu  tại văn bản đề ngày 17/5/2021. Vì vậy, xét để đảm bảo cho việc sinh hoạt và học tập của cháu  không bị ảnh hưởng nên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết cho bà S tiếp tục giữ nuôi cháu Â. Do bà S không có yêu cầu ông Nguyễn Văn L phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử xét không đề cập xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Phạm Thị Thu S xác định bà và ông Nguyễn Văn L không có tài sản chung, không có nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử xét không đề cập xem xét.
Án phí: Bà Phạm Thị Thu S phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc xin ly hôn của bà Phạm Thị Thu S với ông Nguyễn Văn L.
1. Về hôn nhân: Bà Phạm Thị Thu S được ly hôn với ông Nguyễn Văn L.
2. Về nuôi con chung: Bà Phạm Thị Thu S được tiếp tục giữ nuôi con chung tên Nguyễn Phạm Hoài Â, sinh ngày 14/01/2011. Ông Nguyễn Văn L không phải cấp dưỡng nuôi con, bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.
3. Về án phí: Bà Phạm Thị Thu S phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002880 ngày 01/4/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Hưng, bà S đã nộp đủ án phí.
4. Các bên đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn:
- 15 ngày kể từ ngày tuyên án đối với đương sự có mặt;
- 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa.
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh. - VKSND Huyện. - CCTHADS Huyện. - Các đương sự. - UBND xã, thị trấn nơi đăng ký kết hôn - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM. THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Trọng Nhân |