vanban.org

Bản án 19/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Trương Thị T tranh chấp “Hôn nhân gia đình - Ly hôn” với Anh Lê Quốc T1"
  • Tòa quyết gì? 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 19/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 19 - 01 - 2021
V/v tranh chấp “Hôn nhân gia đình
- Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Dương Bích Tuyền

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Thái Công Sết

2. Bà Nguyễn Thị Kim Chi

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Tuyết - Thư ký Toà án nhân dân huyện

Phú Tân.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễ Văn Hoài - Kiểm sát viên.

Trong ngày 19 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú

Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số:

369/2020/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2020, về tranh chấp “Hôn nhân

gia đình - Ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 213/2020/QĐXXST-

HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2020 giữa:

1. Nguyên đơn: Chị Trương Thị T, sinh năm 1983.

Nơi cư trú: Tổ 07, ấp Long H 1, xã Long H, huyện Phú T, tỉnh An Giang.

2. Bị đơn: Anh Lê Quốc T1, sinh năm 1973.

Nơi cư trú: Tổ 07, ấp Long H 1, xã Long H, huyện Phú T, tỉnh An Giang.

(Chị T và anh T1 vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ly hôn đề ngày 01/6/2020, bản tự khai nguyên đơn chị

Trương Thị T trình bày: Sau khi tìm hiểu chị và anh T1 tự nguyện chung sống

với nhau, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Long Sơn, huyện Phú

Tân, tỉnh An Giang (nay là phường Long Sơn, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang)

cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 35, quyển 0I ngày 06/4/2001; chung sống thời

gian đầu hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cự cải, bất đồng

quan điểm, nguyên nhân chủ yếu là vấn đề kinh tế gia đình do anh T1 không

quan tâm chăm sóc vợ con, chị đã nhiều lần khuyên ngăn nhưng không được; đến khoảng cuối năm 2004 anh T1 bỏ đi làm ăn tại Đà Lạt (tỉnh Lâm Đồng) nên mỗi người sống mỗi nơi, không ai quan tâm ai, vợ chồng chính thức ly thân từ đó cho đến nay. Hiện tình cảm không còn, đời sống chung không thể kéo dài, yêu cầu ly hôn với anh Lê Quốc T1.

Về con chung: chị và anh T1 có 01 con chung tên Lê Thị Ngọc H, sinh

ngày 17/7/2001 (đã trưởng thành, tự lập được), không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung; nợ chung phải thu, phải trả: Không có, không yêu cầu

Tòa án giải quyết.

Ngoài ra không có ý kiến nào khác.

- Bị đơn anh Lê Quốc T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần

nhưng vẫn vắng mặt không lý do, không có lời trình bày.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân:

- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải

quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật. Tuy nhiên, anh T1 vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án là chấp hành pháp luật chưa nghiêm.

- Về nội dung: Hôn nhân của chị T và anh T1 được xác lập trên cơ sở tự

tìm hiểu, tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ; quá trình chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cự cải, từ khi ly thân đến nay không hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu của chị T xin ly hôn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại

phiên toà, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, sau khi nghe Kiểm sát viên phát biểu việc tuân theo pháp luật tố tụng và đề xuất nội dung giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: chị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải

quyết ly hôn với anh T1 nên xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình – Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết: anh Lê Quốc T1 là bị đơn có nơi cư trú tại ấp

Long Hòa 1, xã Long Hòa, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

Chị T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; anh T1 đã được Tòa án triệu tập

hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành xét xử

vắng mặt chị T và anh T1 theo quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ

luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: chị T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh T1. Xét

chứng cứ có trong hồ sơ cùng kết quả tranh tụng công khai tại phiên tòa thể hiện,

hôn nhân của anh, chị được xác lập năm 2001 trên cơ sở tự tìm hiểu, có đăng ký

kết hôn được pháp luật thừa nhận. Tuy nhiên, cuộc sống chung vợ chồng không

hạnh phúc, thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, vợ chồng

chính thức ly thân từ năm 2004 đến nay, không hàn gắn được tình cảm vợ chồng

trong thời gian dài sau khi ly thân mà anh, chị mỗi người sinh sống mỗi nơi,

không ai quan tâm ai, từ đó tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không

thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, điều này phù hợp với lời trình

bày của người làm chứng anh Lê Phước Sang (em ruột anh T1); do đó, chị T yêu

cầu ly hôn là có căn cứ được chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân

gia đình năm 2014.

Về nuôi con chung: anh, chị có 01 con chung tên Lê Thị Ngọc Huyền,

sinh ngày 17/7/2001 (đã trưởng thành, tự lập được), không ai yêu cầu giải quyết

nên không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung; nợ chung phải thu, phải trả: Các bên không tranh chấp,

không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Ghi nhận lời trình bày đương sự không có nợ chung, nhưng sau khi Bản

án có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ

chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì chị T và anh T1 phải liên đới chịu

trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

Ngoài ra, các bên không tranh chấp về vấn đề gì khác nên không đặt ra

xem xét.

Về án phí: Chị T phải chịu án phí theo quy định pháp luật. Anh T1

không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều

39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 26; khoản 5, khoản 6 Điều 27 và khoản 1 Điều 48 Nghị quyết

số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy

định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa

án,

Xử:

Về hôn nhân: Chị Trương Thị T được ly hôn với anh Lê Quốc T1.

Giấy chứng nhận kết hôn số 35, quyển 0I ngày 06/4/2001 của Ủy ban

nhân dân xã Long Sơn, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang cấp cho chị Trương Thị T và anh Lê Quốc T1 không còn giá trị pháp lý khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Về con chung đã trưởng thành, tự lập được, không ai yêu cầu giải quyết

nên không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung; nợ chung phải thu, phải trả: không có.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trương Thị T phải chịu án phí hôn nhân,

gia đình là 300.000 đồng, được khấu trừ tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0001518 ngày 05/10/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh An Giang (đã nộp đủ). Anh Lê Quốc T1 không phải chịu án phí.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống

đạt hoặc niêm yết bản sao Bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành

án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ