- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Trịnh Thị NT được ly hôn anh Lê Trung TH.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NL TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2021/HNGĐ-ST Ngày: 31 - 3 - 2021 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NL TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Tân
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bùi Đăng Thảnh
Ông Phạm Đức Hoàn
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Văn Thịnh - Thư ký Toà án nhân dân huyện NL, tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NL, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Lanh - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện NL, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 280/2020/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 12 năm 2020 về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 3 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên toà số 10/2021/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 3 năm 2021, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trịnh Thị NT; sinh năm: 1984; HKTT: Thôn NA(nay là thôn MT), xã MS, huyện NL, tỉnh Thanh Hoá; chỗ ở hiện nay: Thôn MH, xã MS, huyện NL, tỉnh Thanh Hoá.
- Bị đơn: Anh Lê Trung TH; sinh năm: 1980; HKTT: Thôn NA(nay là thôn MT), xã MS, huyện NL, tỉnh Thanh Hoá; chỗ ở hiện nay: Thôn MT, xã MS, huyện NL, tỉnh Thanh Hoá.
Tại phiên toà vắng mặt chị NT, anh TH. Chị NT đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh TH vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 02/12/2020 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Trịnh Thị NT trình bày: Chị và anh Lê Trung TH kết hôn tự nguyện, đăng ký ngày 04/10/2005 tại Uỷ ban nhân dân (sau đây viết tắt là UBND) xã MS, huyện NL, tỉnh Thanh Hoá. Sau ngày cưới, cuộc sống vợ chồng hoà thuận được 07 năm thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra cãi vã. Hai bên gia đình đã khuyên giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Không chịu được cuộc sống như vậy nên chị đã về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Vợ chồng chị đã sống ly thân từ năm 2013 cho đến nay, không ai quan tâm tới ai. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên chị yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh TH.
Về con cái: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Lê Minh K, sinh ngày 01/9/2005. Hiện cháu đang ở với chị. Nếu ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu K, không yêu cầu anh TH phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản: Chị NT không yêu cầu Toà án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập hợp lệ anh Lê Trung TH để làm bản tự khai, trình bày ý kiến về những nội dung yêu cầu khởi kiện của chị NT nhưng anh TH không có mặt nên không có lời khai của anh TH và các bên không thống nhất được các vấn đề cần giải quyết trong vụ án.
Ý kiến của Viện kiểm sát:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt là HĐXX), Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là BLTTDS); chị NT đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật, anh TH không thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014: Xử cho chị Trịnh Thị NT được ly hôn anh Lê Trung TH. Giao cháu Lê Minh K, sinh ngày 01/9/2005 cho chị NT trực tiếp nuôi dưỡng, anh TH không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
Về tố tụng:
Tòa án đã thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho các bên đương sự nhưng anh Lê Trung TH không có mặt nên Tòa án đã thông báo kết quả kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho anh TH theo quy định tại khoản 3 điều 210 BLTTDS.
Anh TH đã được triệu tập hợp lệ đến phiên hoà giải hai lần nhưng anh TH đều không đến để tham gia hoà giải nên Toà án không tiến hành hoà giải được. Đây là trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 1 điều 207 BLTTDS.
Toà án cũng đã triệu tập hợp lệ anh TH lần thứ hai đến Tòa án để tham gia phiên toà nhưng anh TH vẫn không có mặt mà không có lý do nên căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 điều 227, khoản 3 điều 228 BLTTDS Toà án xét xử vắng mặt anh TH.
Chị Trịnh Thị NT đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, căn cứ quy định tại khoản 1 điều 227, khoản 1 điều 228 BLTTDS, Toà án xét xử vắng mặt chị NT.
Về hôn nhân: Chị Trịnh Thị NT và anh Lê Trung TH kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 04/10/2005 tại UBND xã MS, huyện NL, tỉnh Thanh Hoá và không vi phạm các điều cấm của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, là hôn nhân hợp pháp. Trong cuộc sống hôn nhân, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm. Vợ chồng đã sống ly thân, không ai quan tâm tới ai, vấn đề này cũng đã được UBND xã MS xác nhận. Tòa án cũng đã nhiều lần triệu tập anh TH lên làm việc để anh TH được bày tỏ quan điểm, ý kiến và nguyện vọng của mình nhưng anh TH đều không có mặt, thể hiện anh TH không thiết tha hàn gắn tình cảm vợ chồng. Điều đó chứng tỏ chị NT, anh TH đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nghĩ nên căn cứ điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 xử cho chị NT được ly hôn anh TH.
Về con cái: Chị NT và anh TH có 01 con chung. Xét thấy, hiện tại cháu đang ở với chị NT. Cháu có nguyện vọng muốn được ở với mẹ khi bố mẹ ly hôn. Để không bị xáo trộn cuộc sống và đảm bảo sự phát triển ổn định về mọi mặt cho cháu, cũng như theo nguyện vọng của cháu, nghĩ nên chấp nhận yêu cầu của chị NT, giao cháu K cho chị NT trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận ý kiến của chị NT, anh TH không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản: Chị NT không yêu cầu nên miễn xét.
Về án phí: Chị NT phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147; 227; 228; 271; 273 BLTTDS; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
1. Về hôn nhân: Xử cho chị Trịnh Thị NT được ly hôn anh Lê Trung TH.
2. Về con cái: Giao cháu Lê Minh K, sinh ngày 01/9/2005 cho chị NT trực tiếp nuôi dưỡng, anh TH không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh TH có quyền qua lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Trịnh Thị NT phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền chị đã nộp tạm ứng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện NL, theo biên lai số AA/2019/0011650 ngày 14/12/2020. Chị NT đã nộp đủ tiền án phí.
Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt chị NT, anh TH. Chị NT, anh TH có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND huyện; - Các đương sự; - UBND xã MS; - Chi cục THADS huyện; - Lưu. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Hội thẩm nhân dân Bùi Đăng Thảnh Phạm Đức Hoàn | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Tân Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thanh Tân |