vanban.org

Bản án 19/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Diễm T. Chị Nguyễn Thị Diễm T được ly hôn với anh Lê Minh Đ.

[2] Về nuôi con chung: chị Nguyễn Thị Diễm T được quyền trực tiếp nuôi con tên Lê Nguyễn Minh P, sinh ngày 04/5/2016, anh Lê Minh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con do chị T không yêu cầu. Sau khi ly hôn, cha, mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Diễm T - Lê Minh Đ"
  • Tòa quyết gì? [1] Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Diễm T. Chị Nguyễn Thị Diễm T được ly hôn với anh Lê Minh Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỎ CÀY BẮC
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2021/HNGĐ-ST
Ngày 17/5/2021

V/v: “Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Lăng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vi Quốc Thanh

Bà Nguyễn Thị Kim Oanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Diễm Kiều – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc: Ông Thạch Thiện – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc công khai xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 01/2021/TLST - HNGĐ ngày 04 tháng 01 năm 2021 về việc “ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2021/QĐXXST – HNGĐ ngày 05/4/2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 25/2021/QĐST-HNGĐ ngày 28/4/2021. Giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Nguyễn Thị Diễm T, sinh năm 1995 (xin vắng mặt)

Nơi cư trú: ấp HT, xã SH, huyện CT, tỉnh Bến Tre.

Bị đơn: Lê Minh Đ, sinh năm 1993 (vắng mặt)

Nơi cư trú: ấp TX 1, xã TT, huyện MCB, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 30/12/2020 và lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Diễm T trình bày: do quen biết, tìm hiểu, chị và anh Lê Minh Đ tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Sơn Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Anh chị chung sống hạnh phúc được thời gian đầu sau khi cưới nhưng từ khi chị sinh con, anh chị không hạnh phúc nữa do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm và anh Đ cũng không chăm lo cho vợ con. Nay không thể sống với nhau được nữa và không còn tình cảm, anh chị đã ly thân từ tháng 12/2019 đến nay nên chị yêu cầu Tòa án cho chị ly hôn với anh Đ.

Anh chị có một con chung tên Lê Nguyễn Minh P, sinh ngày 04/5/2016 đang do chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung của vợ chồng, chị T tự xác định giữa chị và anh Đ không có tài sản chung, không có nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Lê Minh Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ trong suốt quá trình giải quyết vụ án nhưng vẫn vắng mặt không lý do và cũng không gửi cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến của mình.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc phát biểu quan điểm: Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, những người tiến hành tố tụng và nguyên đơn đã tuân thủ pháp luật tố tụng dân sự, bị đơn không chấp hành các nghĩa vụ của mình. Về nội dung vụ án, thấy rằng anh chị không cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc, mục đích hôn nhân của anh chị không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T, cho chị và anh Đ ly hôn nhau. Về nuôi con chung, chị T và anh Đ có 01 con chung là cháu Lê Nguyễn Minh P, sinh ngày 04/5/2016 hiện do chị T trực tiếp nuôi dưỡng, để đảm bảo sự phát triển bình thường của cháu P về mặt tinh thần và thể chất, đề nghị Tòa án cho chị T được tiếp tục nuôi con, ghi nhận chị T không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng. Không giải quyết về tài sản chung và nợ chung của chị T và anh Đ trong cùng vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Sau khi nghiên cứu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định đây là vụ án hôn nhân gia đình về việc “ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc.

Xét thấy bị đơn anh Lê Minh Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để xét xử nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các điều 227 và 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt anh Đ.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Diễm T đối với anh Lê Minh Đ, thấy rằng:

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Diễm T và anh Lê Minh Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, không vi phạm các điều kiện kết hôn nên hôn nhân giữa anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Chị T nhìn nhận mâu thuẫn vợ chồng xuất phát từ tính tình anh chị không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống và anh Đ cũng không quan tâm, chăm lo cho vợ con. Tòa án đã ra các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho các đương sự được biết để tạo điều kiện cho anh chị hàn gắn mâu thuẫn nhưng anh Đ vẫn vắng mặt. Hội đồng xét xử thấy rằng anh chị không yêu thương, chăm sóc nhau, không cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc, đã ly thân từ cuối năm 2019, nay đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T, cho chị và anh Đ ly hôn nhau.

Về nuôi con chung: chị Nguyễn Thị Diễm T đang là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Nguyễn Minh P, sinh ngày 04/5/2016. Để đảm bảo sự phát triển bình thường về thể chất và tinh thần của cháu P, cần tiếp tục giao cháu P cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận chị T không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và về nợ chung: chị T tự xác định giữa chị và anh Đ không có tài sản chung, không có nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh Đ cũng không có ý kiến về tài sản chung và về nợ chung nên Tòa án không xem xét giải quyết trong cùng vụ án.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên được chấp nhận toàn bộ.

Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: chị Nguyễn Thị Diễm T phải chịu 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội.

[1] Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Diễm T. Chị Nguyễn Thị Diễm T được ly hôn với anh Lê Minh Đ.

[2] Về nuôi con chung: chị Nguyễn Thị Diễm T được quyền trực tiếp nuôi con tên Lê Nguyễn Minh P, sinh ngày 04/5/2016, anh Lê Minh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con do chị T không yêu cầu.

Sau khi ly hôn, cha, mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, nếu lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích của con chung, các bên, cá nhân, tổ chức theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

[3] Về tài sản chung và về nợ chung: chị T tự xác định giữa chị và anh Đ không có tài sản chung, không có nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết; anh Đ cũng không có ý kiến về tài sản chung và về nợ chung nên Tòa án không xem xét giải quyết trong cùng vụ án.

[4] Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm chị Nguyễn Thị Diễm T phải chịu nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0006039 ngày 04/01/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày tòa án tống đạt bản án hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ