vanban.org

Bản án 19/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hà Thị Ngọc T. Cho chị Hà Thị Ngọc T được ly hôn anh Trần Đình Th. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn Hà Thị Ngọc T và Trần Đình Th"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỊNH QUÁN
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 30 - 3 - 2021.
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con khi ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Lợi.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Điểu Hoàng.

2. Bà Nguyễn Thị Quy.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thùy Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Quán.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Luân – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 3 năm 2021, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 430/2020/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 10 năm 2020 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 02 năm 2021, Quyết định hoãn phiên tòa số 32/2021/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2021 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Hà Thị Ngọc T – sinh năm: 1995.

Địa chỉ: Ấp ĐĐ 1, xã TT, huyện ĐQ, tỉnh Đồng Nai.

Bị đơn: Anh Trần Đình Th – sinh năm: 1988.

Địa chỉ: Ấp ĐĐ 1, xã TT, huyện ĐQ, tỉnh Đồng Nai.

(chị T có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Th vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Quá tr nh tham gia t t ng t i T a án ngu n đơn chị Hà Thị Ngọc T trình bày:

Chị và anh Trần Đình Th tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2013 và được Ủy ban nhân dân xã TT cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 23/3/2015. Cuộc sống chung vợ chồng hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh Th ham mê cờ bạc, rượu chè, không quan tâm đến vợ, con. Do đó trong cuộc sống chung vợ chồng không hạnh phúc, xảy ra cãi vã nhau. Thậm chí anh Th có lần đánh đập chị. Từ năm 2018, chị và anh Th sống ly thân nhau cho đến nay. Do tình cảm không còn nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Trần Đình Th.

Về con chung: Chị và anh Th có 01 con chung là Trần Thị Hương Tr – sinh ngày: 25/9/2013.

Từ khi chị và anh Th ly thân nhau đến nay, con chung sống cùng chị.

Khi ly hôn, chị yêu cầu trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Đối với anh Trần Đình Th: Mặc dù khi thụ lý và tiến hành các hoạt động tố tụng, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và Giấy triệu tập anh Th đến Tòa án làm việc nhưng anh Th không đến Tòa án để thể hiện nguyện vọng của mình.

Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Hà Thị Ngọc T đã giao nộp những tài liệu, chứng cứ sau: CMND của chị T (bản sao); Sổ hộ khẩu của chị T và anh Th (bản sao); Trích lục kết hôn (bản sao); Giấy khai sinh của con chung (bản sao); Bản tự khai ngày 28/10/2020 của chị Hà Thị Ngọc T (bản chính); Đơn xin vắng mặt ngày 24/02/2021 của chị Hà Thị Ngọc T (bản chính). Để giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ sau: 02 biên bản xác minh ngày 18/01/2021; Biên bản ghi nhận nguyện vọng của con chung đối với cháu Trần Thị Hương Tr.

Các tài liệu, chứng cứ này Tòa án đã ra thông báo cho các bên đương sự biết đồng thời tiến hành mở phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải và ra thông báo kết quả về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho những người vắng mặt theo đúng quy định của pháp luật.

Ý kiến của Kiểm sát vi n:

- Về việc tuân theo pháp luật: Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm trước khi nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Do nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định pháp luật.

- Về nội dung vụ án:

+ Về quan hệ hôn nhân: Xét vợ chồng chị T và anh Th đã xảy ra mâu thuẫn, không hòa giải đoàn tụ được. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị T, cho chị Hà Thị Ngọc T được ly hôn với anh Trần Đình Th.

+ Về con chung: Đề nghị giao 01 con chung là Trần Thị Hương Tr – sinh ngày: 25/9/2013 cho chị Hà Thị Ngọc T trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm thời anh Th không phải cấp dưỡng nuôi con do chị T không yêu cầu.

+ Về tài sản chung, nợ chung: Chị T kê khai không có, không yêu cầu giải quyết. Hiện nay vắng mặt anh Th nên chưa điều tra, làm rõ được, vì vậy đề nghị tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi phát sinh tranh chấp.

+ Về án phí: Đề nghị buộc chị Hà Thị Ngọc T phải chịu 300.000đ án phí DSST về ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về áp dụng pháp luật tố tụng:

Nguyên đơn chị Hà Thị Ngọc T khởi kiện yêu cầu ly hôn, giải quyết về việc nuôi dưỡng con chung đối với bị đơn anh Trần Đình Th. Anh Th đang cư trú tại huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự xác định quan hệ tranh chấp trong vụ kiện này là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.

Chị Hà Thị Ngọc T và anh Trần Đình Th là các đương sự trong vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến Tòa án để tham gia phiên tòa nhưng chị T có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Th vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Vì vậy căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt các đương sự.

. Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh Th tự nguyện sống chung với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TT vào ngày 23/3/2015. Như vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Nay chị T yêu cầu ly hôn với anh Th thì Tòa án áp dụng các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết.

Quá trình chung sống vợ chồng anh chị sống hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Chị T yêu cầu ly hôn vì anh Th ham mê cờ bạc, rượu chè, không quan tâm đến vợ, con.

Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã nhiều lần tiến hành triệu tập anh Th đến Tòa án để hòa giải nhưng anh Th không đến để làm việc. Điều này thể hiện ý chí của anh Th không muốn hàn gắn, đoàn tụ. Đồng thời qua xác minh tại địa phương thể hiện đời sống chung của vợ chồng anh chị không hạnh phúc và đã sống ly thân nhau (bút lục 30 – 31).

Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã phát sinh kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy để chị T có điều kiện ổn định cuộc sống của mình nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T là cho chị được ly hôn với anh Th là đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

. Về con chung: Chị T và anh Th có 01 con chung là Trần Thị Hương Tr – sinh ngày: 25/9/2013.

Chị T yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Xét thấy, bản thân chị T có đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Hơn nữa, từ khi chị T và anh Th sống ly thân đến nay, con chung sống cùng chị T. Bản thân cháu Trà cũng có nguyện vọng sống cùng chị T. Vì vậy để tránh xáo trộn cuộc sống của con chung nên tiếp tục giao cháu Trần Thị Hương Tr cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm thời anh Th không phải cấp dưỡng nuôi con do chị T không yêu cầu.

Khi nào có tranh chấp về việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con sẽ giải quyết bằng vụ án khác.

. Về tài sản chung, nợ chung: Chị T kê khai không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Hiện nay vắng mặt anh Th nên chưa điều tra, làm rõ được, vì vậy sẽ giải quyết bằng vụ án khác khi phát sinh tranh chấp.

. Về án phí: Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì chị Hà Thị Ngọc T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí DSST về ly hôn.

. Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, do đó được chấp nhận.

V các lẽ tr n:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 235 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Các Điều 9, 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hà Thị Ngọc T.

Cho chị Hà Thị Ngọc T được ly hôn anh Trần Đình Th.

2. Về con chung: Chị T và anh Th có 01 con chung là Trần Thị Hương Tr – sinh ngày: 25/9/2013.

Chị Hà Thị Ngọc T trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trần Thị Hương Tr. Tạm thời anh Trần Đình Th không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh Th có quyền qua lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được gây trở ngại. Vì lợi ích của con chung các bên đương sự được quyền xin thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

Khi nào có tranh chấp về việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con sẽ giải quyết bằng vụ án khác.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi phát sinh tranh chấp.

4. Về án phí: Chị Hà Thị Ngọc T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí DSST về ly hôn. Số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) chị T đã nộp tạm ứng án phí tại biên lai thu số 0005425 ngày 26 tháng 10 năm 2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai chuyển thành án phí.

5. Quyền kháng cáo: Chị T và anh Th có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

6. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ