vanban.org

Bản án 19/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” của chị Chu Thị H; Xử cho chị Chu Thị H được ly hôn anh Hoàng Văn K.

Về con chung: Giao cháu Hoàng Chu L, sinh ngày 11/7/2013 và Hoàng Thị Ngọc L, sinh ngày 27/5/2015 cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Hoàng Văn K không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà khôn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Chu Thị H ly hôn anh Hoàng Văn K"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” của chị Chu Thị H; Xử cho chị Chu Thị H được ly hôn anh Hoàng Văn K.
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HOÁ
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2021/HNGĐ - ST
Ngày 15/4/2021
“V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HOÁ, TỈNH TUYÊN QUANG

- THnh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lâm Hạnh Quỳnh Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Bích Hằng

2. Bà Mai Hoa Viễn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bàn Thị Bích Duyên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hoá tham gia phiên tòa: Bà Chu Thị Hoa - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 4 năm 2021 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 391/2020/TLST

- HNGĐ ngày 01 tháng 12 năm 2020 về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2021/QĐST - HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2021/QĐST - HNGĐ ngày 31 tháng 3 năm 2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Chu Thị H, sinh năm 1994; Địa chỉ: Thôn NL, xã PB, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang, (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Hoàng Văn K, sinh năm 1984; Địa chỉ: Thôn NL, xã PB, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 17/11/2020, nội dung bản tự khai, biên bản ghi lời khai, nguyên đơn chị Chu Thị H trình bày:

- Về hôn nhân: Chị Chu Thị H và anh Hoàng Văn K qua thời gian tìm hiểu tự nguyện đã đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn YL, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ tại giấy chứng nhận kết hôn số 36 ngày 27/9/2012, thời gian đầu chung sống hòa thuận hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do không cùng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi chửi nhau, vợ chồng không quan tâm đến cuộc sống chung dẫn đến chị H và anh K đã sống ly thân từ cuối năm 2018. Nay chị H xác định tình cảm không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, yêu cầu được ly hôn với anh Hoàng Văn K.

- Về con chung: Chị Chu Thị H và anh Hoàng Văn K có 02 con là Hoàng Chu L, sinh ngày 11/7/2013 và Hoàng Thị Ngọc L, sinh ngày 27/5/2015, hiện nay các cháu đang chung sống cùng chị, nay ly hôn chị H có nguyện vọng được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con và không yêu cầu anh K phải cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã mở phiên họp việc kiểm tra tiếp cận công khai chứng cứ, phiên họp hòa giải lần 01 và lần 02 nhưng bị đơn anh Hoàng Văn K đều vắng mặt không có lý do. Tại đơn xin giải quyết vắng mặt ngày 26/02/2021, bị đơn anh Hoàng Văn K nêu quan điểm:

- Về hôn nhân: Anh nhất trí ly hôn với chị Chu Thị H vì xác định tình cảm vợ chồng thực sự đã hết, do công việc bận nên không thể đến Tòa giải quyết ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt theo quy định của pháp luật.

- Về con chung: Anh K nhất trí để chị H là người trực tiếp nuôi dưỡng 02 con là Hoàng Chu L, sinh ngày 11/7/2013 và Hoàng Thị Ngọc L, sinh ngày 27/5/2015 và anh không phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

* Tại biên bản lấy lời khai ngày 04/02/2021 cháu Hoàng Chu L có nguyện vọng được mẹ là chị Chu Thị H trực tiếp nuôi dưỡng sau khi bố mẹ ly hôn.

Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn đều vắng mặt, chị H có đơn xin xét xử vắng mặt gửi Tòa án và giữ nguyên ý kiến trình bày trong quá trình giải quyết, không thay đổi hay bổ sung gì thêm; anh K vắng mặt không có văn bản gửi Tòa án về việc thay đổi hay bổ sung nội dung gì thêm.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án đều đảm bảo đúng quy định; Riêng bị đơn chưa thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Áp dụng các Điều 51, 53, 56, 57, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, các Điều 143, 144, 147, 227, 228, 238, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” của chị Chu Thị H, cho chị Chu Thị H được ly hôn anh Hoàng Văn K. Về con chung: Giao cháu Hoàng Chu L, sinh ngày 11/7/2013 và Hoàng Thị Ngọc L, sinh ngày 27/5/2015 cho chị Chu Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Hoàng Văn K không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; Về tài sản chung và nợ chung chị Chu Thị H không đề nghị Tòa án giải quyết, do vậy không xem xét; Về án phí: Chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn; anh K không phải chịu án phí DSST ly hôn. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật. Về khắc phục kiến nghị vi phạm trong tố tụng: Không.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về pháp luật tố tụng:

Chị Chu Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang giải quyết cho chị được ly hôn anh Hoàng Văn K; anh Hoàng Văn K đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn NL, xã PB, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Căn cứ theo khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn" và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang.

Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Chu Thị H vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Hoàng Văn K vắng mặt (đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần 2), Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 227, 228, 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, quyết định xét xử vắng mặt các đương sự theo đúng quy định của pháp luật.

Về việc xem xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Chu Thị H và anh Hoàng Văn K có đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật Hôn nhân và gia đình; có đăng ký kết hôn vào ngày 27/9/2012 tại UBND thị trấn YL, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ nên được xác định là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, chị H và anh K chung sống hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do không cùng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi chửi nhau, vợ chồng không quan tâm đến cuộc sống chung dẫn đến chị H và anh K đã sống ly thân từ cuối năm 2018. Xác định chị H và anh K không cùng chung sống, không còn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; không cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình nên không thể tồn tại một gia đình hạnh phúc, tiến bộ, mục đích hôn nhân không đạt được. Như vậy, căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình thì tình trạng hôn nhân của chị H và anh K đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Chu Thị H, xử cho chị H được ly hôn anh Hoàng Văn K.

Về con chung: Chị Chu Thị H và anh Hoàng Văn K có 02 con là Hoàng Chu L, sinh ngày 11/7/2013 và Hoàng Thị Ngọc L, sinh ngày 27/5/2015. Chị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con và không yêu cầu anh K phải cấp dưỡng nuôi con chung; anh K nhất trí để chị H là người trực tiếp nuôi dưỡng các con và anh không phái cấp dưỡng nuôi con chung. Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình giao cháu Hoàng Chu L, sinh ngày 11/7/2013 và Hoàng Thị Ngọc L, sinh ngày 27/5/2015 cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh K không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp có sự thay đổi về điều kiện trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục ảnh hưởng đến quyền lợi về mọi mặt của con và các bên đương sự có yêu cầu thì Tòa án sẽ xem xét giải quyết bằng một vụ án khác theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Chu Thị H không yêu cầu Toà án giải quyết nên HĐXX không xem xét.

Về án phí và quyền kháng cáo: Chị Chu Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (trong vụ án ly hôn); các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39; các Điều 143, 144, 147, 227, 228, 238, 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 51, 53, 56, 57, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” của chị Chu Thị H; Xử cho chị Chu Thị H được ly hôn anh Hoàng Văn K.

2. Về con chung: Giao cháu Hoàng Chu L, sinh ngày 11/7/2013 và Hoàng Thị Ngọc L, sinh ngày 27/5/2015 cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Hoàng Văn K không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm (trong vụ án ly hôn): Chị Chu Thị H phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0002962 ngày 30 tháng 11 năm 2020 của Chi cục Thi Hnh án dân sự huyện Chiêm Hóa (chị Chu Thị H đã nộp đủ tiền án phí). Anh Hoàng Văn K không phải nộp án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Chị Chu Thị H và anh Hoàng Văn K vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai./.

Cỡ chữ