vanban.org

Bản án 19/2020/LĐ-ST — Tranh chấp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đỗ Văn T đối với bị đơn Công ty A về việc “Tranh chấp bảo hiểm xã hội”:

1. Buộc Công ty A phải đóng tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp theo quy định pháp luật cho ông Đỗ Văn T tại Bảo hiểm xã hội thị xã Tân Uyên từ tháng 11/2015 đến tháng 06/2016. Mức đóng và số tiền phải đóng được thực hiện theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp — án lao động — "Đỗ Văn T - Ct A"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đỗ Văn T đối với bị đơn Công ty A về việc “Tranh chấp bảo hiểm xã hội”:
  • Căn cứ chính? Điều 21 Luật Bảo hiểm xã hội; Điều 32 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TÂN UYÊN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2020/LĐ-ST
Ngày: 08-9-2020
V/v: Tranh chấp bảo hiểm xã hội.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Nga

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Minh Hoàng – Phó Chủ tịch Liên đoàn Lao động thị xã Tân Uyên;

2. Ông Huỳnh Sơn Tây – Cán bộ hưu trí.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Trinh - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án lao động thụ lý số 18/2020/TLST-LĐ ngày 07 tháng 7 năm 2020 về việc tranh chấp bảo hiểm xã hội theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2020/QĐXXST-LĐ ngày 19 tháng 8 năm 2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Đỗ Văn T, sinh năm 1980; địa chỉ thường trú: Tổ A, khu phố B, phường H, thi xã T, tỉnh Bình Dương; có đơn xin vắng mặt.

- Bị đơn: Công ty A; địa chỉ: Khu phố V, phường U, thị xã T, tỉnh Bình Dương. Người đại diện theo pháp luật: Bà Go Sun J, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hoàng Văn K, sinh năm 1976; địa chỉ: Tổ X, khu phố V, phường U, thị xã T, tỉnh Bình Dương (Giấy ủy quyền ngày 05/8/2020); có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 24/6/2020, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Đỗ Văn T trình bày như sau:

Ngày 01/7/2015, ông Đỗ Văn T ký hợp đồng lao động với Công ty B (sau đổi tên thành Công ty A) số 100028/2015/HĐLĐ-ITN loại hợp đồng lao động xác định thời hạn 01 năm, với mức lương là 6.000.000 đồng/tháng. Khi hợp đồng lao động hết hạn, ông Đỗ Văn T xin nghỉ việc và được Công ty A đồng ý.

Từ khi vào làm việc, hàng tháng Công ty A đều trích tiền lương của ông T để đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp nhưng Công ty không nộp tiền cho Bảo hiểm xã hội thị xã Tân Uyên theo quy định từ tháng 11/2015. Ngoài ra, từ khi ông T nghỉ việc đến nay, Công ty A không chốt sổ bảo hiểm xã hội, không trả sổ bảo hiểm xã hội cho ông T. Khi ông T liên hệ với cơ quan Bảo hiểm xã hội thị xã Tân Uyên thì được biết Công ty A đang nợ quỹ bảo hiểm xã hội nên cơ quan bảo hiểm xã hội không thể giải quyết chế độ cho ông T. Do đó, ông T khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc Công ty A phải chốt sổ bảo hiểm xã hội và trả sổ bảo hiểm xã hội cho ông T theo quy định pháp luật; buộc Công ty A bồi thường tiền trợ cấp thất nghiệp với mức 60% của 03 tháng lương trước khi nghỉ việc.

Quá trình giải quyết vụ án, ông T có đơn khởi kiện bổ sung về việc yêu cầu Công ty A đóng tiền bảo hiểm xã hội từ tháng 11/2015 đến tháng 06/2016; đồng thời xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu Công ty thanh toán tiền trợ cấp thất nghiệp.

Ông Hoàng Văn K là người dại diện theo ủy quyền của bị đơn Công ty A trình bày:

Trước đây, Công ty A có ký hợp đồng lao động với ông Đỗ Văn T. Sau đó, do tình hình kinh tế khó khăn nên Công ty A đã cho ông T nghỉ việc. Hiện nay, do hoạt động kinh doanh, sản suất của Công ty A gặp nhiều khó khăn còn nợ tiền bảo hiểm xã hội của nhân viên trong đó có ông T. Công ty A đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông T.

Vì lý do bận công việc, không có thời gian tham gia tố tụng nên ông Hoàng Văn K có đơn đề nghị Toà án xét xử vụ án vắng mặt.

Theo Công văn số 219/CV-BHXH ngày 17/8/2020 của Bảo hiểm xã hội Tân Uyên và Biên bản xác minh ngày 28/8/2020 của Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên thể hiện: Công ty A có đăng ký tham gia bảo hiểm xã hội cho ông Đỗ Văn T, mã số BHXH: 7413010674 từ tháng 07/2015 đến tháng 06/2016 tại Bảo hiểm xã hội thị xã Tân Uyên. Tính đến thời điểm hiện tại, Công ty A đang nợ tiền đóng BHXH, BHYT, BHTN từ tháng 11/2015. Từ khi ông T nghỉ việc, Công ty A chưa lập hồ sơ, thủ tục gửi về Bảo hiểm xã hội thị xã Tân Uyên để chốt sổ BHXH cho ông T.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, đảm bảo thời hạn chuẩn bị xét xử. Nguyên đơn và người đại diện hợp pháp của bị đơn có đơn xin vắng mặt nên Tòa án giải quyết vắng mặt các đương sự theo Điều 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự là đúng quy định.

Về đề xuất giải quyết vụ án: Quá trình giải quyết vụ án, ông T xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu bị đơn bồi thường trợ cấp thất nghiệp, đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với yêu cầu đã rút. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, nghe ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1 Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Căn cứ vào quan hệ lao động và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Tòa án xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp bảo hiểm xã hội”; bị đơn Công ty A có trụ sở tại thị xã Tân Uyên nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên theo điểm d khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn và người đại diện hợp pháp của bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

3 Căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn và ý kiến của người đại diện hợp pháp của bị đơn xác định được: Ngày 01/7/2015, ông T ký kết hợp đồng lao động xác định thời hạn với Công ty A số 100028/2015/HĐLĐ-ITN, dựa trên sự tự nguyện của các bên; sau khi ký hơp đồng, ông T làm việc tại công ty và Công ty A đăng ký tham gia bảo hiểm xã hội cho ông T theo quy định. Do đó, giữa ông T và Công ty A phát sinh quan hệ lao động phù hợp quy định Bộ luật Lao động. Điều này được các đương sự thừa nhận nên là tình tiết không phải chứng minh theo Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy rằng: Quan hệ lao động giữa ông T và Công ty A là hợp pháp và việc đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc là trách nhiệm của người sử dụng lao động, người lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 19 và khoản 2 Điều 21 Luật Bảo hiểm xã hội. Theo Công văn số 219/CV-BHXH ngày 17/8/2020 của Bảo hiểm xã hội thị xã Tân Uyên xác định: Công ty A có đăng ký tham gia bảo hiểm xã hội cho ông Đỗ Văn T từ tháng 07/2015 đến tháng 06/2016 nên Công ty A và ông T phải có trách nhiệm đóng đủ bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định tương ứng với thời gian làm việc của ông T. Thực tế hàng tháng, Công ty A đều trích tiền lương của ông T để đóng bảo hiểm xã hội nhưng không thực hiện đóng bảo hiểm xã hội cho ông T và những người lao động khác từ tháng 11/2015. Ông T xin nghỉ việc sau khi kết thúc hợp đồng nên thời gian đóng bảo hiểm xã hội cho ông T phải tính đến hết tháng 06/2016. Việc Công ty A trích tiền lương của nguyên đơn hàng tháng nhưng không nộp tiền bảo hiểm xã hội cho nguyên đơn, không chốt sổ bảo hiểm xã hội và không hoàn trả sổ bảo hiểm xã hội cho nguyên đơn khi nguyên đơn nghỉ việc là vi phạm quy định tại khoản 5 Điều 21 Luật bảo hiểm xã hội, khoản 2 và khoản 3 Điều 47 Bộ luật Lao động. Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận.

[5] Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với bị đơn về việc yêu cầu bồi thường 03 tháng tiền trợ cấp thất nghiệp là tự nguyện nên căn cứ Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu khởi kiện đã rút.

[6 Ý kiến đề xuất giải quyết vụ án của Kiểm sát viên là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật.

[7] Về án phí: Công ty A phải chịu án phí lao động sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ Điều 32, 35, 39, 92, 147, 228, 238, 244, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ khoản 3 Điều 47, Điều 186 Bộ luật Lao động;

- Căn cứ Điều 18, 19, khoản 2 và khoản 5 Điều 21 Luật Bảo hiểm xã hội;

- Căn cứ khoản 3 Điều 18 Nghị định 115/2015/NĐ-CP ngày 11/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc;

- Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đỗ Văn T đối với bị đơn Công ty A về việc “Tranh chấp bảo hiểm xã hội”:

1.1. Buộc Công ty A phải đóng tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp theo quy định pháp luật cho ông Đỗ Văn T tại Bảo hiểm xã hội thị xã Tân Uyên từ tháng 11/2015 đến tháng 06/2016. Mức đóng và số tiền phải đóng được thực hiện theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp.

1.2. Buộc Công ty A thực hiện xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội và trả sổ bảo hiểm xã hội cho ông Đỗ Văn T theo quy định của pháp luật.

2. Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đỗ Văn T về việc yêu cầu bị đơn Công ty A bồi thường tiền trợ cấp thất nghiệp.

3. Về án phí lao động sơ thẩm: Công ty A phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng).

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ