- Tranh chấp gì? án hình sự — "Quách công N - Giết người - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| Toµ ¸n nh©n d©n tØnh Hoµ B×nh | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| B¶n ¸n sè: 19/2020/HS - ST Ngµy: 26/5/2020 Nh©n danh n íc céng hoµ x· héi chñ nghÜa viÖt nam Toµ ¸n nh©n d©n tØnh Hoµ b×nh Víi thµnh phÇn héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm gåm cã : - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bạch Thị Hồng Hoa - Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Vân Anh – Thư ký Toà án. Phạm Văn Minh - Kiểm sát viên. ngµy 30/3/2020 ®èi víi: Hạ, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/10; dân tộc: Mường; Con ông Quách Công Nhiểu và bà Quách Thi Vịnh ( 1995. Tiền án, tiền sự: Không. Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/8/2019 đến nay có mặt tại phiên tòa thuộc Đoàn luật sư tỉnh Hòa Bình. huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình Má Mư, xã Cuối Hạ, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình. Quách Thị A; Cùng địa chỉ: Xóm Má Mư, xã Cuối Hạ, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình |
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 h ngày 20/8/2019, Quách Công N lấy 01 con dao nhọn, có vỏ bọc bằng gỗ đeo vào người rồi đi vào lán trông nương của gia đình. Trên đường đi, khi đi qua nhà bà Bùi Thị Niên, N thấy bà Bùi Thị Niên và bà Quách Thị N 2 đang ngồi thái thân cây chuối làm thức ăn cho gia cầm. Bà N 2 nhờ N thái hộ cây chuối, N đồng ý và thái được 02 bao tải thân cây chuối, rồi gánh về nhà cho bà N 2. Khi đến nhà bà N 2, N để bao tải ở ngoài sân, bà N 2 vào nhà lấy 01 chai rượu và 01 miếng cá kho cho N ăn, uống tại sàn nhà bà N 2. Sau khi uống xong 3 chén rượu, N xin bà N 2 mấy cây măng, bà N 2 đồng ý. N ra vườn trước của nhà bà N 2 để lấy măng, lấy xong N quay lại đi lên nhà sàn thấy bà N 2 đang ngồi gần khu vực cửa sổ, mặt hướng về phía N đang đi tới, N cầm con dao nhọn bằng tay trái đi đến chém một nhát vào vùng cổ bên phải của bà N 2, bị chém bất ngờ bà N 2 hét lên rồi bỏ chạy xuống sân phía trước nhà, N cầm dao đuổi theo chém tiếp một nhát vào vùng tay trái của bà N 2 làm cho bà N 2 gục ngã xuống nền sân đất trước cửa nhà, tử vong tại chỗ. N đi về nhà thay quần áo thì bị cơ quan công an bắt giữ.
Tại bản kết luận giám định pháp y số 127/GĐPY – CAT – PC 09 ngày 30/8/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Hòa Bình kết luận: Nạn nhân bị chấn thương vùng : Mặt, cổ, tay do bị tác động rất mạnh bởi vật có lưỡi sắc gây nên các tổn thương: Đứt động mạch cảnh, đứt bản xương hàm dưới và một số vết rách da trên cơ thể nạn nhân. Nạn nhân chết so sốc mất máu.
Tại bản kết luận giám định pháp y về AND số 227/TC – AND ngày 05/9/2019 của Viện pháp y Quốc gia kết luận: AND từ mẫu thu tại hiện trường ( M1), bao đựng dao ( M3), con dao ( M4) trùng khớp hoàn toàn với AND của Quách Thị N 2.
Tại bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 05/KLGĐ ngày 07/01/2020 của Viện pháp y tâm thầm Trung ương kết luận: Trước, trong khi thực hiện hành vi phạm tội và tại các thời điểm giám định bị can Quách Công N bị bệnh rối loạn phân liệt. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 có mã số F21. Tại các thời điểm trên bệnh ở giai đoạn thuyên giảm, bị can hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Ngày 21/02/2020 viện Pháp y tâm thần Trung ương có công văn số 164/VPYTTTƯ, xác định Quách Công N không thuộc diện áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.
Về vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ:
- 01 áo phong cộc tay màu xanh, 01 quần vải màu nâu, 01 quần đùi màu đen của Quách Công N.
- Áo sơ mi màu đen, áo phong màu hồng nhạt, quần đùi màu tím tham có kẻ sọc, kẻ trắng hai bên, quần lót nhãn hiệu Jacki của Quách Thị N 2
- 01 mẫu máu được thu tại sàn nhà, 01 mẫu máu được thu gần tử thi, 01 loa Bluetooth màu xanh tím than; 01 con dao dài khoảng 49 cm, có lưỡi sắc, mũi nhọn, cán dao bằng tre; 01 con dao dài 46,6 cm, mũi dao bằng, cán dao bằng gỗ; 01 vỏ bao đựng dao được làm bằng tre dài khoảng 41 cm được buộc với nhau bằng dây dù. Các vật chứng trên thu giữ tại nhà Quách Thị N 2.
Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường 180.517.000đ. Bao gồm: 150.000.000đ tiền bồi thưởng tổn thất tinh thần và 30.517.000đ tiền mai táng phí. Hiện tại gia đình bị cáo đã bồi thường được 45.000.000đ.
C¸o tr¹ng sè 22/CT – VKS- P2 ngµy 24/3/2020 cña ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n tØnh Hoµ b×nh truy tè Quách Công N vÒ téi giết người theo kho¶n 2 ĐiÒu 123 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa ®¹i diÖn ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n tØnh Hoµ B×nh gi÷ nguyªn quan điểm truy tè bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS, xử phạt bị cáo từ 07 đến 08 năm tù. Về trách nhiệm dân sự, vật chứng đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Cáo trạng truy tố bị cáo về tội giết người là có căn cứ. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, trình độ văn hóa thấp, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bản thân chưa có tiền án, tiền sự, gia đình thuộc hộ cận nghèo của địa phương, khi sự việc xảy ra đã tích tực bồi thường thiệt hại. Bị cáo có thời gian tham gia trong Quân đội nhân dân Việt Nam 05 năm 02 tháng. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo bị bệnh gây hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 54 BLHS cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp hơn mức VKS đề nghị.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, lời khai của những người tham gia tố tụng;
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an tỉnh Hòa Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Luật sư bào chữa cho bị cáo xuất trình tài liệu, chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật; Luật sư, trợ giúp viên pháp lý, bị cáo, đại diện theo pháp luật của bị hại không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung:
Ngày 20/8/2019, sau khi uống rượu tại nhà bà Quách Thị N 2, Quách Công N ra vườn lấy măng, khi lấy măng xong N quay lại và đi lên nhà sàn thì thấy bà N 2 đang ngồi gần khu vực cửa sổ, N đi đến và dùng dao chém một nhát vào cổ và một nhát vào tay bà N 2, hậu quả bà N 2 tử vong. Theo kết luận giám định pháp y tâm thần thì khi thực hiện hành vi giết bà N 2, bị cáo là người bị bệnh rối loạn phân liệt.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi bị cáo đã thực hiện. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ tài liệu đã được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở kết luận bị cáo phạm tội giết người theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự, như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tính mạng con người là khách thể được pháp luật bảo vệ, gây tác động xấu đến an ninh trị an xã hội. CÇn thiÕt ph¶i cã h×nh ph¹t nghiªm kh¾c tương xứng với tính chất, hậu quả của hành vi bị cáo đã thực hiện ®Ó c¶i t¹o gi¸o dôc bÞ c¸o vµ phßng ngõa téi ph¹m chung.
Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Tình tiết tăng nặng: Không.
Tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bÞ c¸o thµnh khÈn khai b¸o, ¨n n¨n hèi c¶i, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo là người dân tộc thiểu số, trình độ văn hóa thấp, gia đình thuộc hộ cận nghèo của địa phương, khi sự việc xảy ra đã tích cực bồi thường thiệt hại. Bị cáo có thời giam tham gia trong Quân đội nhân dân Việt Nam từ 1977 đến 1982. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đang là bệnh nhân bị bệnh tâm thần, phải điều trị tại cộng đồng ( tại Ủy ban nhân dân xã), bị bệnh rối loạn phân liệt, hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, hành vi của bị cáo là bột phát, giữa bị cáo và bị hại không có mâu thuẫn gì. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Có căn cứ để chấp nhận đề nghị của luật sư bào chữa cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bà Quách Thị N 2 yêu cầu bị cáo bồi thường 180.517.000đ. Bao gồm: 150.000.000đ tiền bồi thưởng tổn thất tinh thần và 30.517.000đ tiền mai táng phí.
Xét các khoản chi phí mai táng 30.517.000đ phù hợp với phong tục địa phương được chấp nhận toàn bộ. Khoản tổn thất tinh thần: Bị cáo là người có bệnh về tâm thần, sống ở nông thôn, vùng miền núi khó khăn, thu nhập thấp. Cần buộc bị cáo bồi thường cho gia đình bị hại bằng 50 tháng lương cơ sở là 74.500.000đ là phù hợp. Tổng bị cáo phải bồi thường cho gia đình bị hại 105.017.000đ, trừ đi số tiền đã bồi thường 45.000.000đ. Bị cáo còn phải bồi thường 60.017.000đ.
Về vật chứng: Các vật chứng vụ án gồm: 01 áo phong cộc tay màu xanh, 01 quần vải màu nâu, 01 quần đùi màu đen của Quách Công N xét thấy không còn giá trị xử dụng, cần tịch thu xuất hủy
- Áo sơ mi màu đen, áo phong màu hồng nhạt, quần đùi màu tím tham có kẻ sọc, kẻ trắng hai bên, quần lót nhãn hiệu Jacki của Quách Thị N 2 xét thấy không còn giá trị xử dụng, cần tịch thu xuất hủy
- 01 mẫu máu được thu tại sàn nhà, 01 mẫu máu được thu gần tử thi,; 01 con dao dài khoảng 49 cm, có lưỡi sắc, mũi nhọn, cán dao bằng tre; 01 con dao dài 46,6 cm, mũi dao bằng, cán dao bằng gỗ; 01 vỏ bao đựng dao được làm bằng tre dài khoảng 41 cm được buộc với nhau bằng dây dù, 01 loa Bluetooth màu xanh tím than. Các vật chứng trên thu giữ tại nhà Quách Thị N 2. Xét đây là vật chứng vụ án cần tịch thu xuất hủy.
Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng đặc biệt khó khăn, có căn cứ chấp nhận miễn án phí dân sự cho bị cáo như ý kiến của trợ giúp viên pháp lý.
V× c¸c lÏ trªn.
QuyÕt ®Þnh:
Tuyên bố: Quách Công N phạm tội “ Giết người ”.
Áp dụng khoản 2 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Quách Công N 07 ( bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/8/2019.
Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự, các Điều 591, 592 Bộ luật Dân sự. Buộc bị cáo Quách Công N phải bồi thường thiệt hại về tổn thất tinh thần, tiền mai táng phí cho gia đình bà Quách Thị N 2 số tiền là 60.017.000đ.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, nếu người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì người đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 và Điều 468 BLDS 2015
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự, người thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6,7,9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 89 bộ luật tố tụng hình sự 2015, tịch thu, xuất hủy:
1. 01(một) hộp niêm phong dán kín còn nguyên vẹn. Bên ngoài có ghi: “ 01 áo phông cộc tay màu xanh; 01 chiếc quần dài bằng vải màu nâu của Quách Công N; 01 phong bì ghi mẫu máu hiện trường ngoài sân bên trong có một miếng gạc có vết màu nâu đỏ: 01 phong bì bên ngoài ghi mẫu dịch âm đạo bên trong có một miếng gạc có vết màu vàng nhạt; 01 phong bì bên ngoài ghi mẫu máu tử thi, bên trong có một mảnh bông có vết màu nâu đỏ”. Trên bề mặt hộp niêm phong có đóng dấu tròn đỏ của Viện Pháp Y Quốc gia và chữ ký thành phần tham gia.
2. 01(một) hộp niêm phong dán kín còn nguyên vẹn. Bên ngoài có ghi: “ Quần áo của Quách Thi N 2, Áo sơ mi màu đen, áo phông màu hồng nhạt, Quần đùi màu tím than có kẻ sọc kẻ trắng hai bên. Quần lót nhãn hiệu Jacki”. Trên bề mặt hộp niêm phong có chữ ký thành phần tham gia niêm phong cùng đóng dấu tròn đỏ của Công an xã Cuối Hạ và Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Hòa Bình.
3. 01(một) hộp niêm phong dán kín còn nguyên vẹn. Bên ngoài có ghi: “ Móng tay Quách Thị N 2, máu hiện trường trong nhà”. Trên bề mặt hộp niêm phong có chữ ký thành phần tham gia niêm phong cùng dấu tròn đỏ của Công an xã Cuối Hạ và Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Hòa Bình.
4. 01(một) hộp niêm phong dán kín còn nguyên vẹn. Bên ngoài có ghi: “Quần đùi Quách Công N”. Trên bề mặt hộp có chữ ký thành phần tham gia niêm phong cùng dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Hòa Bình.
5. 01(một) hộp niêm phong dán kín còn nguyên vẹn. Bên ngoài có ghi: “Dao Mũi nhọn, bao đựng dao thu tại nhà Quách Thị N 2”. Trên bề mặt hộp có chữ ký thành phần tham gia niêm phong cùng dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Hòa Bình.
6. 01(một) hộp dán kín còn nguyên vẹn. Bên ngoài có ghi: “Dao Mũi bằng, Loa Bluetooth thu tại nhà Quách Thị N 2”. Trên bề mặt hộp có chữ ký thành phần tham gia niêm phong cùng dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Hòa Bình và công an xã Cuối Hạ. (Theo biên bản giao nhận vật chứng số 28/BB – GNVC ngày 27/3/2020 giữa Cơ quan điều tra công an tỉnh và Cục thi hành án dân sự tỉnh Hòa Bình).
¸n phÝ: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14: Bị cáo Quách Công N phải nộp 200.000đ tiền án phí hính sự sơ thẩm, được miễn toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm
Trong thêi h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy tuyªn ¸n s¬ thÈm bÞ c¸o, đại diện theo pháp luật bÞ h¹i, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, luật sư cã quyÒn kh¸ng c¸o theo quy ®Þnh cña ph¸p luËt. N¬i nhËn:
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
- TAND cấp cao;
| - VKSND cấp cao; - VKSND tỉnh Hòa Bình; - CQCSĐT- Công an tỉnh Hòa Bình; - CTHADS tỉnh Hòa Bình; - CTHAHS – Công an tỉnh Hòa Bình; - Trại giam Công an tỉnh Hòa Bình - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bạch Thị Hồng Hoa |