- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Ngô Tuấn S về tội “Hủy hoại tài sản - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Ngô Tuấn S phạm tội “Hủy hoại tài sản”;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự Xử phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TA TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ____________ Bản án số: 19/2020/HSST Ngày: 04/9/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY AN, TỈNH PHÚ YÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cơ.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Châu Hòa và ông Nguyễn Mạnh Tiến
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện TA, tỉnh Phú Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TA, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Biện Tấn Hoàng - Kiểm sát viên.
Vào lúc 08 giờ 00 phút, ngày 04 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở tòa án nhân dân huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 17/2020/HSST ngày 10 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:
Ngô Tuấn S, sinh năm 1987; Nơi ĐKNKTT : Tổ x, thôn PT, xã VT, thành phố NT, tỉnh Khánh Hòa; chỗ ở: Tổ x, thôn PT, xã VT, thành phố NT, tỉnh Khánh Hòa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Trình độ văn hóa 12/12; nghề nghiệp: Làm thuê; Cha: Ngô Văn T, sinh năm 1950 (chết); Mẹ: Ngô Thị G, sinh năm 1950. Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
Bị hại:
1. Ông Hồ Xuân T, sinh năm 1963; trú tại: Thôn XB, xã AX, huyện TA, tỉnh Phú Yên.
2. Hợp tác xã x; Địa chỉ trụ sở: Thôn XB, xã AX, huyện TA, tỉnh Phú Yên. Do ông Hồ Xuân T, sinh năm 1963 - Giám đốc Hợp tác xã x đại diện theo pháp luật
Người làm chứng:
1. Phạm Đình D, sinh năm 1960. Có mặt
2. Nguyễn Phi H, sinh năm 2004. Vắng mặt
3. Phạm Đình D, sinh năm 1962. Vắng mặt
4. Nguyễn Quốc H, sinh năm 1995. Vắng mặt
5. Ngô Hồng B, sinh năm 1954. Có mặt
Cùng trú tại: Thôn XB, xã AX, huyện TA, tỉnh Phú Yên.
6. Đinh Trọng T, sinh năm 1990; trú tại: Thôn XT, xã AX, huyện TA, tỉnh Phú Yên.
7. Nguyễn Phi L, sinh năm 1975; trú tại: Thôn XT, xã AX, huyện TA, tỉnh Phú Yên. Có mặt
8. Nguyễn V, sinh năm 1966; trú tại: Thôn XB, xã AX, huyện TA, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
9. Nguyễn Duy D, sinh năm 1954; trú tại: Thôn XB, xã AX, huyện TA, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do nghi ngờ ông Hồ Xuân T gây khó khăn trong việc làm ăn của mình, nên khoảng 23 giờ 30 phút ngày 19/6/2019, sau khi nhậu tại nhà Nguyễn Phi H, Ngô Tuấn S đi bộ đến nhà ông T là nơi sử dụng để làm trụ sở Hợp tác xã x đập phá tài sản.
Khi đến cổng phía Tây nhà ông T, S dùng chân đạp móp thụn hai cánh cổng, rồi đi đến cổng phía Đông Bắc làm rách biển hiệu ngành nghề kinh doanh của HTX và dùng chân đạp làm gãy ba khóa cổng để vào trong sân nhà, S dùng tay lật 02 cái bàn khung kim loại làm vỡ mặt bàn làm bằng gạch, đập vỡ 02 ghế nhựa hiệu Đại Đồng Tiến, 01 ấm điện đun nước hiệu Gali, 05 chậu cây cảnh làm bằng xi măng. Tiếp đó S dùng tay giật mạnh cánh cửa sổ phòng thờ nhiều cái làm cánh cửa bung khỏi bản lề và nứt một đường tại vách tường. Thấy vậy, Nguyễn Phi H chạy vào ôm S ra ngoài. Cùng lúc này, ông Phạm Đình D đến thì S dùng tay đánh vào mặt ông D một cái.
Sau đó, S đi vào khu vực nhà bếp mở hai cánh cửa nhà bếp rồi đi vào dùng tay khua, kéo, đập phá làm rơi bếp ga hiệu Ikura, nồi cơm điện hiệu Sunhouse xuống nền nhà, dùng chân đá làm quạt điện hiệu Asia ngã, S tiếp tục đi ra ngoài nhặt mảnh vỡ xi măng, gạch, cây ném vào khu vực bếp làm vỡ kính, móp thụn cạnh 02 tủ chén làm bằng kim loại, làm vỡ 01 bộ ấm trà, 01 bình thủy bằng nhựa, 02 nồi đất, 01 phích đá bằng nhựa.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 26/KL-HĐĐGTS ngày 12/7/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện TA kết luận: Tổng giá trị tài sản thiệt hại là 6.232.000 đồng.
Vật chứng vụ án: 01 nồi cơm điện, 01 ấm điện đun nước, 01 bếp ga, 01 quạt điện, 02 ghế nhựa, một số mảnh vỡ thủy tinh và gạch có đặc điểm như mô tả tại BL số 79.
Về dân sự: Ngô Tuấn S đã nộp 7.000.000đồng để bồi thường thiệt hại
Tại bản cáo trạng số 10/CT-VKSTA ngày 20/02/2020 Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy An đã truy tố bị cáo Ngô Tuấn S về tội “Hủy hoại tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự,
Tại phiên tòa:
Bị cáo Ngô Tuấn S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; về phần dân sự bị cáo đồng ý bồi thường số tiền 7.741.000 đồng theo yêu cầu của bị hại. Số tiền 7.000.000 đồng bị cáo nộp tại Công an bị cáo bồi thường đủ cho Hợp tác xã x 2.206.000 đồng, số tiền còn lại 4.794.000 đồng bồi thường cho cá nhân ông Hồ Xuân T còn thiếu 741.000 đồng bị cáo sẽ bồi thường cho ông T sau.
Bị hại ông Hồ Xuân T trình bày: Về hình sự đề nghị Hội đồng xét xử xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, về dân sự một số tài sản thống nhất theo giá của Kết luận định giá tài sản, riêng biển hiệu, 02 tủ nhôm lồng kính và 02 cánh cửa cổng phía tây ông đã gọi thợ đến xem và đưa ra giá làm lại biển hiệu là 500.000 đồng, 02 tủ nhôm lồng kính là 3.000.000 đồng và 02 cánh cửa cổng phía tây là 1.000.000 đồng. Do đó ông yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 7.741.000 đồng. Trong đó của cá nhân Hồ Xuân T là 5.533.000đồng và Hợp tác xã x 2.206.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Ngô Tuấn S, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 178, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo S từ 09 tháng đến một năm cải tạo không giam giữ, không khấu trừ thu nhập do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định
Về dân sự: Áp dụng Điều 584, 589 Bộ luật dân sự ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Ngô Tuấn S tự nguyện bồi thường cho bị hại Hồ Xuân Tám 5.533.000đồng và Hợp tác xã x 2.206.000 đồng. Bị cáo đã nộp 7.000.000 đồng tại biên lai thu tiền số AA/2010/ 03158 ngày 21/02/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện TA. Số tiền này bồi thường đủ cho Hợp tác xã x do ông Hồ Xuân Tám đại diện 2.206.000 đồng, số tiền còn lại 4.794.000 đồng bồi thường cho ông Hồ Xuân T nên bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường cho ông Hồ Xuân T 741.000 đồng.
Vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 nồi cơm điện, 01 ấm điện đun nước, 01 bếp ga, 01 quạt điện, 02 ghế nhựa, và một số mảnh vỡ thủy tinh và gạch có đặc điểm như mô tả tại BL số 79 vì không còn giá trị sử dụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tuy An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện TA, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung: Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 19/6/2019, Ngô Tuấn Sỹ có hành vi đập phá hủy hoại tài sản của ông Hồ Xuân T và HTX x với tổng giá trị bị thiệt hại là 6.232.000đồng. Với hành vi và hậu quả như vậy, bị cáo đã phạm tội “Hủy hoại tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự như bản cáo trạng số 10/CT-VKSTA ngày 20/02/2020 truy tố bị cáo là có căn cứ.
Hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản của người khác đồng thời gây mất trật tự trị an trong xã hội, sau khi sự việc xảy ra bị cáo đi khỏi địa phương nên Cơ quan cảnh sát điều Công an huyện TA ra quyết định truy nã, giá trị tài sản bị cáo hủy hoại 6.232.000 đồng. Nên phải xử lý nghiêm đúng với tính chất, mức độ, hành vi và hậu quả mà bị cáo gây ra.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, do lúc đầu bị cáo không biết nên đã đi làm ăn xa, sau khi có quyết định truy nã bị cáo đã nhận thức được nên đến Cơ quan cảnh sát điều Công an huyện TA đầu thú, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã nộp số tiền 7.000.000 đồng để khắc phục hậu quả. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của Nhà nước mà yên tâm lao động, cải tạo, tu dưỡng đạo đức trở thành người có ích cho xã hội.
Giữa bị cáo và bị hại không có mâu thuẫn gì, sau khi uống rượu bị cáo ngang nhiên đến nhà và là nơi làm việc của hợp tác xã x đập phá tài sản là coi thường pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cho bị cáo cải tạo không giam giữ.
Về phần dân sự: Căn cứ Điều 584, 589 Bộ luật dân sự. Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo tự nguyện bồi thường cho bị hại Hồ Xuân T 5.533.000đồng và Hợp tác xã x 2.206.000 đồng. Bị cáo đã nộp 7.000.000 đồng tại biên lai thu tiền số AA/2010/03158 ngày 21/02/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện TA. Tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường hết cho Hợp tác xã x do ông Hồ Xuân T đại diện 2.206.000 đồng, còn lại 4.794.000 đồng bồi thường cho cá nhân ông Hồ Xuân T nên bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường cho ông Hồ Xuân T 741.000 đồng.
Vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 nồi cơm điện hiệu SUNHOUSE, màu xanh, cao 0,3, đường kính miệng 0,3; 01 ấm điện đun nước siêu tốc hiệu Gali, cao 0,2, đường kính miệng 0,09m, đường đáy 0,16m; 01 bếp ga hiệu IKURA, màu đen, kích thước (0,70 x 0,35 x 0,085)m; 01 quạt điện kiểu đứng, hiệu ASIA, đường kính lồng quạt 0,45m, cao 0,80m; 02 ghế nhựa có tựa lưng, loại cao, hiệu Đại Đồng Tiến, màu đỏ đô và một số mảnh vỡ kính và gạch theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/02/2020 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện TA và Chi cục thi hành án dân sự huyện TA vì không còn giá trị sử dụng.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Ngô Tuấn S phạm tội “Hủy hoại tài sản”;
Căn cứ khoản 1 Điều 178, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự
Xử phạt: Bị cáo Ngô Tuấn S 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Về dân sự: Áp dụng Điều 584, 589 Bộ luật dân sự. Bị cáo Ngô Tuấn S phải bồi thường cho bị hại Hợp tác xã x do ông Hồ Xuân T đại diện 2.206.000 đồng, đã nộp đủ tại biên lai thu tiền số AA/2010/03158 ngày 21/02/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện TA; bồi thường cho ông Hồ Xuân T 5.533.000đồng, bị cáo đã nộp tại biên lai thu tiền số AA/2010/03158 ngày 21/02/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện TA 4.794.000 đồng nên phải tiếp tục bồi thường 741.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thi hành xong khoản tiền phải thi hành án thì phải chịu thêm khoản lãi suất theo Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành xong.
Vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 nồi cơm điện hiệu SUNHOUSE, màu xanh, cao 0,3, đường kính miệng 0,3; 01 ấm điện đun nước siêu tốc hiệu Gali, cao 0,2, đường kính miệng 0,09m, đường đáy 0,16m; 01 bếp ga hiệu IKURA, màu đen, kích thước (0,70 x 0,35 x 0,085)m; 01 quạt điện kiểu đứng, hiệu ASIA, đường kính lồng quạt 0,45m, cao 0,80m; 02 ghế nhựa có tựa lưng, loại cao, hiệu Đại Đồng Tiến, màu đỏ đô và một số mảnh vỡ kính và gạch theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/02/2020 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện TA và Chi cục thi hành án dân sự huyện TA vì không còn giá trị sử dụng.
Về án phí: Căn cứ Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Bị cáo Ngô Tuấn Sỹ phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 387.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người bị hại; - VKSND huyện TA; - VKSND tỉnh Phú Yên; - Công an huyện TA; - Cơ quan THA hình sự; - Chi cục THADS huyện TA; - Sở tư pháp tỉnh Phú Yên; - Lưu hồ sơ. Các Hội thẩm nhân dân | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Thị Cơ Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa |