vanban.org

Bản án 19/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông Tuyên án 23/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đỗ Quang Huy H phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 46, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Chấp nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cư Jut đã ra quyết định xử lý vật chứng: Trả 01 (một) đôi dép nhựa màu xám, 01 (một) … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Quang Huy H phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đỗ Quang Huy H phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CƯ JÚT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐĂK NÔNG
Bản án số: 19/2020/HSST
Ngày 23-6-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ JÚT

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thuận và ông Y Điăng Niê.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Phạm Văn Thể.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Tuấn Anh – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 6 năm 2020 tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Cư Jút xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 21/2020/TLST-HS ngày 19/5/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2020/QĐXXST-HS ngày 02/6/2020 đối với bị cáo: Đỗ Quang Huy H, sinh năm 1998 tại Hà Nội; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã N, huyện K, tỉnh Đăk Nông; Trình độ học vấn: 05/12; Nghề nghiệp: không; Con ông Đỗ Quang D và bà Đỗ Thị N; bị cáo chưa có vợ con; Tiền sự: Không; Tiền án 02: Bản án số 34/2016/HSST, ngày 28/11/2016 của TAND huyện Cư Jut xử phạt 09 (chín) tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản", chấp hành xong hình phạt ngày 16/7/2017; Bản án số 07/2018/HSST, ngày 23/3/2018 của TAND huyện Cư Jut xử phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản", chấp hành xong hình phạt ngày 22/2/2020; Bị cáo bị bắt tạm giữ tạm giam ngày 02/3/2020, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Cư Jut, tỉnh Đăk Nông (Có mặt)

- Người bị hại: Chị Dương Ánh N. Cư trú: Thôn 08, xã N, huyện C, tỉnh Đắk Nông

- (vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Phạm Văn T. Cư trú: Thôn 11, xã N, huyện C, tỉnh Đắk Nông - (vắng mặt)

2. Chị Chu Thị L. Cư trú: Thôn 05, xã N, huyện C, tỉnh Đắk Nông - (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 02 giờ ngày 24/2/2020, bị cáo Đỗ Quang Huy H đi bộ từ ngã ba K, xã N, huyện C đến nhà chị Dương Ánh N tại thôn 8, xã N, huyện C. Khi đi đến hiên nhà chị N sợ gây ra tiếng động nên H cởi dép và áo khoác Jeen để ở hiên nhà, sau đó H dùng tay luồn qua khe cửa chính mở chốt cửa rồi đi vào phòng

-1-

ngủ thì nhìn thấy chị N đang nằm ngủ trên giường, quan sát phía đầu đầu giường có 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu HuaWei, loại GR5, màu vàng nhạt và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung J4 màu xanh đen, 01 cục xạc Sam Sung màu trắng nên H lấy điện thoại Sam Sung J4 và cục xạc bỏ vào túi quần đang mặc, cầm điện thoại HuaWei trên tay, H tiếp tục lục tủ để tìm kiếm tài sản thì gây ra tiếng động làm chị N thức dậy, chị hô nên H bỏ chạy ra ngoài, khi chạy đến đoạn đường liên xã thuộc thôn 8, xã N, H kiểm tra điện thoại HuaWei thấy điện thoại không lên nguồn nên vứt bỏ điện thoại ở bên lề đường, kiểm tra điện thoại Sam Sung J4 phát hiện sau ốp lưng điện thoại có 01 giấy phép lái xe mô tô và có cuộc gọi của chị N gọi đến xin lại giấy phép lái xe, H đi đến trước cổng nhà nghỉ số 333 (nay là nhà nghỉ số 81) thuộc thôn 6, xã N giấu giấy phép lái xe dưới cục đá rồi gọi điện thoại thông báo cho chị N đến lấy, sau đó chị N đến tìm và lấy lại được giấy phép lái xe. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, H bán điện thoại Sam Sung J4 và cục xạc điện thoại hiệu Sam Sung cho anh Phạm Văn T là chủ cửa hàng điện thoại di động Q tại thôn T, xã N, huyện C được 1.400.000 đồng (một triệu bốn trăm nghìn đồng) đem tiêu xài cá nhân hết. Biết hành vi trộm cắp của mình đã bị phát hiện, ngày 02/3/2020 H đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cư Jut đầu thú.

Về vật chứng: 01 (một) đôi dép nhựa màu xám, 01 (một) áo khoác vải Jeen màu xanh đen, 01 (một) tấm hình chân dung của chị Chu Thị L.

Tại kết luận định giá tài sản số 04/KL-HĐĐG ngày 05 tháng 3 năm 2020 của Hội đồng định giá tài sản huyện Cư Jut, kết luận: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung J4, màu xanh đen mua năm 2019, đã qua sử dụng, giá trị thiệt hại của tài sản giao dịch trên thị trường tại thời điểm xâm phạm ngày 24/2/2020 là 1.450.000 đồng; 01 (một) cục xạc hiệu Sam Sung, màu trắng mua năm 2019, đã qua sử dụng, giá trị thiệt hại của tài sản giao dịch trên thị trường tại thời điểm xâm phạm ngày 24/2/2020 là 50.000 đồng (năm mươi nghìn đồng); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu HuaWei, loại GR5, màu vàng nhạt, mua năm 2017 đã qua sử dụng, giá trị thiệt hại của tài sản giao dịch trên thị trường tại thời điểm xâm phạm ngày 24/2/2020 là 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng. Tổng giá trị thiệt hại của tài sản tại thời điểm xâm phạm ngày 24/2/2020 là 1.900.000 đồng (một triệu chín trăm nghìn đồng).

Bản cáo trạng số: 21/CTr-VKS ngày 18/5/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút đã truy tố bị cáo Đỗ Quang Huy H về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Kết quả xét hỏi tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, bị cáo thừa nhận bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jut truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là đúng không oan, bị cáo thừa nhận đã có 02 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” đã chấp hành hình phạt, nhưng chưa được xóa án tích. Bị cáo đồng ý với kết luận định giá tài sản của hội đồng giám định trong tố tụng hình sự huyện Cư Jut.

Phần tranh luận bị cáo không bào chữa gì mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa , đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo như tại bản cáo trạng số: 21/CTr-VKS ngày 18/5/2020 về tội “Trộm cắp tài sản”. Sau khi phân tích các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị

-2-

cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “ Trộm cắp tài sản”; Áp dụng điểm điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đề nghị hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 09 đến 12 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Chấp nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cư Jut đã ra quyết định xử lý vật chứng: Trả 01 (một) đôi dép nhựa màu xám, 01 (một) áo khoác vải Jeen màu xanh đen, 01 (một) tấm hình chân dung của chị Chu Thị L cho Đỗ Quang Huy H.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị hội đồng xét xử buộc bị cáo Đỗ Quang Huy H phải bồi thường cho bị hại chị Dương Ánh N số tiền 1.900.000đồng (một triệu chín trăm nghìn đồng).

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về hành vi của Điều tra viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cư Jut, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Đối với hành vi của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo đã có 02 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích, tiếp đến 24/2/2020, tại thôn 8, xã N, huyện C, tỉnh Đăk Nông bị cáo đã có hành vi trộm cắp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung J4 trị giá là 1.450.000đ; 01 cục xạc hiệu Sam Sung, trị giá là 50.000đ và 01 điện thoại di động nhãn hiệu HuaWei, trị giá là 400.000đ của chị Dương Ánh N, tổng giá trị tài sản là 1.900.000đồng. Như vậy, đã có đủ căn cứ để kết luận bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

………………

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

Xét thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng

-3-

bị cáo vẫn cố ý phạm tội. Theo kết quả định giá tài sản bị cáo chiếm đoạt là 1.900.000 đồng; Mặt khác bị cáo có 02 tiền án về tội "Trộm cắp tài sản": Bản án số 34/2016/HSST, ngày 28/11/2016 của TAND huyện Cư Jut xử phạt 09 (chín) tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản", chấp hành xong hình phạt ngày 16/7/2017; Bản án số 07/2018/HSST, ngày 23/3/2018 của TAND huyện Cư Jut xử phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản", chấp hành xong hình phạt ngày 22/2/2020. Bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện mà lại tiếp tục phạm tội. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jut truy tố bị cáo về tội "Trộm cắp tài sản" theo điểm b Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ. Vì vậy, cần áp dụng đối với bị cáo hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để bị cáo cải tạo giáo dục thành ngừời có ích cho xã hội.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015(sửa đổi, bổ sung năm 2017); Sau khi phạm tội bị cáo đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cư Jút đầu thú về hành vi phạm tội của mình nên cần áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015(sửa đổi bổ sung năm 2017) cho bị cáo.

Đối với anh Phạm Văn T mua điện thoại Sam Sung J4 và cục xạc hiệu Sam Sung do bị cáo Đỗ Quang Huy H bán với giá 1.400.000đ, sau đó bán lại cho khách hàng (không rõ nhân thân) nhưng khi mua anh T không biết đây là tài sản do phạm tội mà có, vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Cư Jut không xử lý đối với anh T là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

. Về xử lý vật chứng: Chấp nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cư Jut đã ra quyết định xử lý vật chứng: Trả 01 (một) đôi dép nhựa màu xám, 01 (một) áo khoác vải Jeen màu xanh đen, 01 (một) tấm hình chân dung của chị Chu Thị L cho Đỗ Quang Huy H.

. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Đỗ Quang Huy H đồng ý bồi thường cho chị Dương Ánh N số tiền 1.900.000đ (một triệu chín trăm nghìn đồng).

. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án. Buộc bị cáo phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Đỗ Quang Huy H phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Đỗ Quang Huy H 01(một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 02/3/2020).

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 46, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

-4-

Chấp nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cư Jut đã ra quyết định xử lý vật chứng: Trả 01 (một) đôi dép nhựa màu xám, 01 (một) áo khoác vải Jeen màu xanh đen, 01 (một) tấm hình chân dung của chị Chu Thị L cho Đỗ Quang Huy H.

3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 46 BLHS, Điều 589 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo Đỗ Quang Huy H bồi thường cho bị hại chị Dương Ánh N số tiền 1.900.000đ (một triệu chín trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất qui định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm thi hành án.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Đỗ Quang Huy H phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án;

Bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản bản được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ