- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự sơ thẩm - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phƣớc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 55 Bộ luật Hình sự; Điều 33 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2020/HS-ST Ngày: 27/7/2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Mai
Thẩm phán: Bà Dương Thị Vân
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Ngọc Ánh
2. Ông Nguyễn Khắc Viên
3. Bà Quách Thị Minh Thúy
- Thư ký phiên tòa: Bà Đồng Thị Hường - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thành Trung - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 24 và 27 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 2 2020 HS-ST, ngày 4 5 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2020 QĐXXST-HS ngày 15/6/2020 đối với các bị cáo:
1. Trần Văn V, sinh ngày 10 8 994 tại tỉnh Kon Tum
Trú tại: Thôn 1, xã K, huyện Đ, tỉnh T; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Lai và bà Trịnh Thị Lâm; Gia đình bị cáo có 03 (ba) anh em, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình; Có vợ là Lê Thị Hồng Hằng và có 01 người con sinh năm 20 5; Tiền án, tiền sự: không
Nhân thân bị cáo: Ngày 24 06 20 4, đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản bị Tòa án nhân dân huyện Đ xử phạt 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo (Đã được xóa án tích).
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 4 2 20 8 cho đến nay (Có mặt).
2. Nguyễn Phƣớc T, sinh ngày 5 5 998 tại tỉnh Kon Tum
Trú tại: Thôn 1, xã K, huyện Đ, tỉnh T; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Phước Tú và bà Lê Thị Tuyết Nhung; Gia đình bị cáo có 03 (ba) anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/11/2019 cho đến nay (Có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Trần Văn V: Ông Tạ Văn Nghiệp, Luật sư c a Văn phòng luật sư Sài Gòn n Nghiệp, thuộc đoàn luật sư tỉnh Kon Tum
Địa chỉ: Số 52 Bà Triệu, phường Thắng Lợi, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum (Có mặt)
- Bị hại:
+ Bà Nguyễn Thị Khánh, sinh năm 947 (Có mặt)
Trú tại: Số 90 Hùng Vương, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh T
+ Bà Trần Thị Kim Loan, sinh năm 97 (Có mặt)
Trú tại: Số 58 Trần Hưng Đạo, phường Thắng lợi, thành phố T, tỉnh T
+ Ông Trần Văn Lưu, sinh năm 983 (Vắng mặt)
Trú tại: Khối 8, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh T
+ Ông Trần Đình Nghĩa, sinh năm 994 (Vắng mặt)
Trú tại: Thôn , xã Tân Cảnh, huyện Đ, tỉnh T
+ Ông Trần Đình Trung, sinh năm 967 (Vắng mặt)
Trú tại: Thôn 1, xã C, huyện Đ, tỉnh T
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Dương Công Hoàn, sinh năm 984 (Vắng mặt)
Trú tại: Tổ dân phố 3 , thị trấn Đăk Hà, huyện H, tỉnh T
+ Ông Trần Trung Bảo, sinh năm 990 (Có mặt)
Trú tại: Tổ 2, ấp 8, xã Sông Trầu, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai
+ Ông Nguyễn Văn Tuấn, sinh năm 996 (Vắng mặt)
Trú tại: Thôn , xã K, huyện Đ, tỉnh T
+ Ông Lê Hoài Thanh, sinh năm 987 (Vắng mặt)
Trú tại: Tổ dân phố 7, thị trấn Plei Kần, huyện N, tỉnh T
+ Bà Lê Thị Mỹ, sinh năm 989 (Vắng mặt)
Trú tại: Khối 8, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh T
+ Ông Lê Văn Phương, sinh năm 972 (Vắng mặt)
Trú tại: Số 28 Ngô Gia Tự, phường Duy Tân, thành phố T, tỉnh T
- Người làm chứng:
+ Ông Nguyễn Thành Tâm, sinh năm 200 (Có mặt)
Trú tại: Thôn , xã Tân Cảnh, huyện Đ, tỉnh T
+ Ông Nguyễn Hoàng Phương, sinh năm 989 (Vắng mặt)
Trú tại: Tổ dân phố , thị trấn Đăk Hà, huyện H, tỉnh T
+ Ông Trần Văn Chung, sinh năm 997 (Vắng mặt)
Trú tại: Thôn , xã K, huyện Đ, tỉnh T
+ Ông Trần Thái Bảo, sinh năm 979 (Có mặt)
Trú tại: Số 90 Hùng Vương, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh T
+ Ông Đặng Quang Dũng, sinh năm 969 (Vắng mặt)
Trú tại: Khối 7, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh T
+ Cháu Ngô Văn Thịnh, sinh ngày 23 2003. Người đại diện theo pháp luật là bà Nguyễn Thị Nguyệt, sinh năm 974 (Mẹ c a Thịnh)
Cùng trú tại: Số 64 Nguyễn Huy Lung, thành phố T, tỉnh T (Cả hai đều có mặt)
+ Ông Phạm Văn Dương, sinh năm 995 (Vắng mặt)
Trú tại: Khối 7, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh T
+ Ông Nguyễn Công Toàn, sinh năm 986 (Vắng mặt)
Trú tại: Khối 7, thị trấn Đ, huyện P, tỉnh N
+ Ông Đặng Minh Quốc, sinh năm 995 (Vắng mặt)
Trú tại: Thôn , xã Diên Bình, huyện Đ, tỉnh T
+ Ông Đặng Văn Thông, sinh năm 980 (Vắng mặt)
Trú tại: Thôn Đăk Đoát, xã Đ, huyện G, tỉnh T
+ Ông Nguyễn Thanh Quyết, sinh năm 992 (Vắng mặt)
Trú tại: Khối phố Tân Phú, thị trấn Phú Thịnh, huyện N, tỉnh N.
+ Chị Trần Thị Lệ Th y, sinh năm 997 (Có mặt)
Trú tại: Thôn , xã K, huyện Đ, tỉnh T
+ Chị Lê Thị Hồng Hằng, sinh năm 996 (Vắng mặt)
Trú tại: Khối 6, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh T
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Văn V vay tiền và nợ nhiều người trên địa bàn. Để có tiền trả nợ và tiêu xài cá nhân, Vũ đã lợi dụng sự tin tưởng, ch quan c a một số hộ kinh doanh trong lĩnh vực cho thuê xe ô tô tự lái, thông qua việc ký kết hợp đồng thuê tài sản, sau khi có được tài sản là những chiếc xe ô tô và những giấy tờ liên quan đến xe ô tô đã thuê làm giả các Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô mang tên mình, đưa ra thông tin gian dối để cầm cố tài sản và chiếm đoạt tài sản. Trong khoảng thời gian từ tháng 4 20 8 đến tháng 10/2018, Trần Văn V đã thực hiện các hành vi phạm tội như sau:
Lần thứ nhất: Đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota Fortune, BKS 82A-038.59 của bà Trần Thị Kim Loan.
Do quen biết với Nguyễn Văn Tuấn nên ngày 12/4/2018, Trần Văn V đã đưa ra thông tin cần thuê xe ô tô để làm phương tiện đi lại và làm ăn nhưng giấy phép lái xe c a Vũ đã bị Công an thu giữ nên không thuê xe được, Vũ đã nhờ Nguyễn Văn Tuấn đi cùng để thuê xe ô tô tự lái, Tuấn đồng ý. Cả hai đến cơ sở kinh doanh cho thuê xe ô tô tự lái c a bà Trần Thị Kim Loan (tại số nhà 58 Trần Hưng Đạo, Tp. Kon Tum, tỉnh Kon Tum). Tại đây, sau khi Tuấn đặt vấn đề thuê xe ô tô tự lái, bà Loan đã tin tưởng đồng ý ký hợp đồng cho thuê xe với nội dung: Bà Loan giao cho Tuấn xe ô tô nhãn hiệu Toyota Fortune, BKS 82 -038.59 cùng các giấy tờ có liên quan với giá 800.000đ ngày, 0 - 5 ngày thanh toán tiền một lần. Sau khi ký hợp đồng thuê xe xong, Tuấn đã giao xe cùng toàn bộ giấy tờ cho Vũ sử dụng. Quá trình sử dụng xe, đến ngày 22 4 20 8 bà Loan liên hệ với Tuấn để yêu cầu Tuấn trả tiền thuê xe, Tuấn thông báo cho Vũ biết nên Vũ đã trực tiếp gặp bà Loan trả tiền và Vũ cho bà Loan biết, Tuấn chỉ là người đứng ra thuê xe ô tô giùm Vũ, còn thực tế Vũ mới là người thuê xe và có trách nhiệm trả tiền; đồng thời Vũ đề nghị bà Loan đổi tên trong hợp đồng từ Tuấn sang cho Vũ nhưng bà Loan không đồng ý, sau đó cứ đến hạn trả tiền thì bà Loan đã liên hệ với Vũ để đòi tiền. Cũng tại thời điểm này do Vũ đang nợ 00.000.000đ c a Trần Đình Trung và Trung đã đòi nợ Vũ. Do chưa có tiền trả nên Trung đề nghị Vũ làm giả Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô BKS 82A-038.59 mang tên Vũ để Vũ đi cầm cố, lấy tiền trả cho Trung và tiêu xài cá nhân. Vũ đồng ý và đưa chứng minh nhân dân c a mình cùng toàn bộ giấy tờ xe có liên quan cho Trung. Sau vài ngày Trung đã đưa cho Vũ một Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô BKS 82A-038.59 số 006203 giả mang tên Trần Văn V. Vũ mua bảo hiểm dân sự bắt buộc. Ngày 03/8/2018 Vũ và Trung cùng đem xe ô tô BKS 82 -038.59 đến tiệm cầm đồ c a bà Nguyễn Thị Khánh, Trung đứng ngoài còn Vũ vào nhà gặp bà Khánh, Vũ đã đưa ra thông tin gian dối là cần tiền để thu mua nông sản và cung cấp Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô làm giả trước đó và các giấy tờ liên quan đến xe ô tô đều mang tên Trần Văn V để cầm cố xe ô tô BKS 82A-038.59. Bà Khánh kiểm tra thấy xe phù hợp với các giấy tờ, bà Khánh đã tin tưởng xe ô tô trên là c a Vũ nên đã đồng ý cầm cố với số tiền 400.000.000đ, lãi suất 2.000đ triệu ngày, Vũ viết “Giấy vay tiền” với số tiền 400.000.000đ. Sau khi, lấy được tiền từ bà Khánh 400.000.000đ, Vũ đã trả nợ cho Trần ĐìnhTrung 106.000.000đ (trong đó hơn 100.000.000đ là tiền Vũ nợ Trung trước đó và 6.000.000đ là tiền Vũ trả cho Trung để nhờ làm Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả). Số tiền còn lại, Vũ dùng để trả nợ và tiêu xài cá nhân.
Đến tháng 0 20 8, do không thấy Vũ trả xe và trả tiền thuê xe và không liên lạc được với Vũ nên bà Loan đã tìm đến nhà bà Khánh và biết được Vũ đã thế chấp xe c a mình để vay tiền nên làm đơn tố giác Trần Văn V.
Với các hành vi trên, Viện kiểm sát truy tố Vũ về các tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại Điều 74; tội“Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại Điều 34 và tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại Điều 75 Bộ luật hình sự.
Lần thứ hai: Đối với xe ô tô BKS 43A-249.90 của anh Trần Văn Lƣu:
Vào khoảng tháng 7 20 8, Trần Văn V liên hệ với Phạm Văn Dương để thuê xe ô tô tự lái. Vì anh Dương đang cho khách thuê xe nên đã giới thiệu Vũ liên hệ với Trần Văn Lưu để thuê xe. Sau đó Vũ đã gặp anh Lưu và anh Lưu đã đồng ý cho thuê xe ô tô BKS 43 -249.90 với giá thỏa thuận 700.000đ ngày cùng các giấy tờ liên quan cho Vũ. Quá trình sử dụng xe ô tô trên được 2 đến 3 ngày, Vũ đã nãy sinh ý định cầm cố xe để lấy tiền trả nợ và tiêu xài cá nhân. Vũ đã liên hệ với anh Nguyễn Hoàng Phương để nhờ tìm nơi cầm cố xe. Khi anh Phương hỏi về nguồn gốc xe, thì Vũ đã đưa ra thông tin gian dối là xe do Vũ mới mua c a một người ở Đà Nẵng, chưa có thời gian sang tên sở hữu. Với thông tin nêu trên Phương đã tin tưởng nên đã liên lạc hỏi Dương Công Hoàn để có cầm cố xe ô tô không, anh Hoàn đã hỏi lại Phương về nguồn gốc xe thì được Phương trả lời như thông tin Vũ đã đưa ra.
Khoảng giờ ngày 07 7 20 8, Vũ điều khiển xe ô tô BKS 43 -249.90 chở theo Trần Văn Chung (sinh năm 1997, là em ruột của Vũ) từ huyện Đđến quán cà phê Đăk Ma (thuộc khu vực tượng đài, thị trấn Đăk Hà, huyện Đăk Hà). Chung ở ngoài, còn Vũ, Phương và Hoàn vào trong thỏa thuận về việc cầm cố xe ô tô. Sau khi xem xe và các giấy tờ, anh Hoàn hỏi Vũ về nguồn gốc xe thì được Vũ cho biết chiếc xe trên do Vũ mới mua c a một người ở Đà Nẵng nhưng chưa kịp sang tên đổi ch . Tin tưởng Vũ đưa ra là đúng sự thật nên anh Hoàn đã đồng ý cầm cố với số tiền 30.000.000đ, lãi xuất theo thỏa thuận, trong thời gian 5 ngày nếu Vũ không hoàn trả tiền gốc và tiền lãi phát sinh thì Vũ có trách nhiệm làm hồ sơ để sang tên cho anh Hoàn được sở hữu xe ô tô trên. Vũ giao toàn bộ giấy tờ xe cho anh Hoàn và điền thông tin vào “Giấy sang nhượng xe” do anh Hoàn cung cấp. Sau khi, nhận 30.000.000đ c a anh Hoàn, Vũ sử dụng vào việc trả nợ và tiêu xài cá nhân rồi bỏ trốn khỏi địa phương. Đến khoảng tháng 0 20 8, sau nhiều lần liên hệ với Vũ nhưng không liên lạc được, anh Lưu đã tìm hiểu và xác định được xe c a mình đã bị Vũ cầm cố cho anh Hoàn nên đã làm đơn tố giác Trần Văn V.
Lần này Viện kiểm sát truy tố Vũ về các tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo Điều 75 BLHS và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại Điều 74 Bộ luật hình sự.
Lần thứ ba: Đối với xe ô tô nhãn hiệu Mitsubishi Pajero, BKS 82A-030.54 thuê của ông Lê Văn Phƣơng.
Khoảng tháng 8 20 8, Trần Văn V liên hệ với anh Lê Văn Phương để thuê xe ô tô tự lái, sau khi ký hợp đồng anh Phương đã giao cho Vũ chiếc xe ô tô nhãn hiệu Mitsubishi Pajero, BKS 82A-030.54, với giá thỏa thuận 900.000đ ngày, anh Phương đã giao xe và các giấy tờ liên quan cho Vũ. Sau hơn một tháng sử dụng xe, Vũ đã nãy sinh ý định cầm cố chiếc xe để lấy tiền tiêu xài và đã liên hệ với Trần Đình Trung nhờ Trung làm giả Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô mang tên Vũ, vài ngày sau Trần Đình Trung đã đưa cho Vũ giấy chứng nhận đăng ký xe giả và Trung lấy 6.000.000 đồng tiền công. Sau khi có được Giấy chứng nhận đăng ký xe giả, ngày 07 9 20 8 Vũ điều khiển xe ô tô nói trên đến nhà bà Nguyễn Thị Khánh đưa ra thông tin gian dối là cần có tiền để làm ăn và đã đặt vấn đề cầm cố xe. Bà Khánh kiểm tra và đồng ý cầm cố với số tiền 350.000.000đ, lãi suất thỏa thuận là 2000đ triệu ngày, trong thời hạn 30 ngày. Trần Văn V đã viết “Giấy mượn tiền” đề ngày 07 9 20 8.
Trong thời gian Vũ cầm cố xe ô tô trên cho bà Khánh thì anh Phương liên hệ nhiều lần với Vũ yêu cầu mang xe ô tô đến cho anh Phương. Để có xe đưa cho anh Phương, Vũ đã đến gặp bà Khánh và đưa ra thông tin gian dối là Vũ cần xe đi đám cưới ở Kon Tum và đặt vấn đề thuê lại chính chiếc xe ô tô mà Vũ đang cầm cố cho bà Khánh. Bà Khánh đã đồng ý nhưng không giao xe cho Vũ mà liên hệ với Đặng Quang Dũng nhờ Dũng điều khiển xe chở Vũ đi. Trưa ngày 03 0 20 8, bà Khánh giao xe ô tô BKS 82A-030.54 cùng các giấy tờ liên quan đến xe ô tô cho Dũng quản lý và điều khiển chở Vũ đi thành phố Kon Tum. Khi Dũng và Vũ đi thì còn có Nguyễn Thành Tâm điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Innova (không rõ BKS) đi cùng phía sau. Khi đến khu vực bến xe tỉnh Kon Tum. Vũ, Dũng và Tâm vào quán uống nước thì Vũ nói với Dũng là Vũ cần đưa xe ô tô BKS 82 -030.54 đi bảo dưỡng rồi chiều quay lại lấy xe và bảo Dũng điều khiển xe Innova mà Tâm đang điều khiển. Vì tin tưởng nên Dũng đã đồng ý, Vũ điều khiển xe ô tô BKS 82A-030.54 đến trả cho anh Phương. Sau đó, Dũng điều khiển xe Innova chở Vũ xuống Gia Lai để đón bạn, còn Tâm về lại huyện Đăk Tô. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, sau khi đón được Trần Đình Trung tại TP. PleiKu, trên đường về đến TP. Kon Tum, Dũng đề nghị Vũ liên hệ với anh Phương để lấy lại xe ô tô BKS 82A-030.54 về trả cho bà Khánh. Vũ đưa ra thông tin với Dũng là Gara sửa xe đóng cửa, sáng mai mới lấy được xe nên Dũng đã điều khiển xe Innova chở Vũ và Trung cùng về nhà bà Khánh. Bà Khánh đã yêu cầu Vũ và Dũng viết “Bản cam kết” đề ngày 03 0 20 8 thể hiện nội dung cả hai cam đoan phải hoàn trả chiếc xe ô tô BKS 82 -030.54 trước ngày 04 0 20 8 cho bà Khánh. Sau đó, Vũ bỏ trốn khỏi địa phương.
Với các hành vi trên Viện kiểm sát truy tố Vũ về các tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại các Điều 341 và Điều 74 Bộ luật hình sự .
Đối với hành vi Vũ thuê xe ô tô BKS 82 -030.54 c a Lê Văn Phương bằng hợp đồng theo quy định c a pháp luật. Quá trình sử dụng đã cầm cố cho bà Khánh lấy số tiền 350.000.000đ tiêu xài là có dấu hiệu c a tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nhưng đã trả lại cho ch sở hữu là Lê Văn Phương vào ngày 03 0 20 8 là trước thời điểm Cơ quan điều tra thụ lý tố giác c a bà Khánh. Đồng thời, Lê Văn Phương không biết sự việc Vũ đã cầm cố xe ô tô c a mình và quá trình điều tra, anh Phương không có đơn tố giác Vũ. Do đó, hành vi c a Vũ không đ yếu tố cấu thành tội phạm Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nên Viện kiểm sát không truy tố Vũ về hành vi này.
Lần thứ tƣ: Đối với xe ô tô nhãn hiệu VEAM, BKS 60C-329.55 của ông Trần Trung Bảo.
Xe ô tô tải nhãn hiệu VE M, BKS 60C-329.55 là tài sản thuộc sở hữu c a Trần Trung Bảo (sinh năm 1990; trú tại ấp 8, xã Sông Trầu, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai). Quá trình sử dụng xe ô tô trên, anh Bảo đã đưa thông tin cần bán xe. Sau đó, Trần Đình Trung đã liên hệ với anh Bảo và thống nhất giá cả và cách thức thanh toán tiền mua xe ô tô trên. Ngày 8 9 20 8, Trần Đình Trung r Nguyễn Thành Tâm đi cùng và Trung thuê Đặng Minh Quốc đi cùng để lái xe về Đăk Tô. Cả nhóm cùng đến nhà Bảo, tại đây Quốc và Tâm đứng ngoài, Trung và Bảo vào nhà trao đổi nội dung mua bán xe như đã thống nhất với nhau trước đó. Trung đồng ý mua chiếc xe ô tô trên với giá 400.000.000đ, bao gồm cả số tiền 353.000.000đ mà anh Bảo đang nợ ngân hàng tiền mua xe ô tô. Trung đã đưa cho Bảo 62.000.000đ (trong đó, 47.000.000đ là số tiền chênh lệch, 15.000.000đ còn lại là số tiền Trung đưa trước cho Bảo để đóng tiền lãi cho ngân hàng tháng tiếp theo). Quá trình mua bán, hai bên ký xác nhận tại “Hợp đồng mua bán xe tải” đề ngày 8 9 20 8. Mua xe xong, Trung giao xe cho Quốc điều khiển về thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh T và trả cho Quốc 2.000.000đ tiền công.
Quá trình điều tra Trần Văn V khai nhận, trong lần đi uống cà phê Vũ gặp Trung và Trung đã đòi nợ Vũ số tiền 80.000.000đ. Vì Vũ không có tiền trả nên Trung khởi xướng nội dung sẽ làm giả Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô BKS 60C-329.55 mang tên Trần Văn V để Vũ mang đi cầm cố, lấy tiền trả cho Trung, Vũ đã đồng ý. Vũ chỉ biết xe ô tô BKS 60C-329.55 Trung có được do mua trả góp c a một người nào đó ở Đồng Nai hay TP. Hồ Chí Minh nhưng không biết việc mua bán cụ thể như thế nào. Một thời gian sau, Trung liên hệ lại với Vũ và giao xe ô tô tải trên cùng Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô được làm giả thành BKS 82C-035.68 mang tên Trần Văn V.
Đến ngày 29 9 20 8, Vũ mang chiếc xe tải nói trên cùng Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả mang tên Trần Văn V đến nhà bà Nguyễn Thị Khánh để tiếp tục cầm cố. Sau khi xem xe và giấy tờ liên quan, bà Khánh đã tin tưởng nên đồng ý cầm cố với số tiền 200.000.000đ, lãi suất 2.000 triệu ngày. Quá trình cầm cố, Vũ có viết 0 giấy vay tiền. Sau khi nhận được tiền, Vũ trả cho Trung 80.000.000đ. Số tiền còn lại Vũ dùng vào việc trả nợ và tiêu xài cá nhân.
Vào kháng 0 20 8, sau một thời gian dài không thấy Trần Đình Trung thực hiện theo các nghĩa vụ đối với ngân hàng Techcombank như đã thỏa thuận trong hợp đồng mua bán xe ô tô tải giữa Trung và Bảo. Đồng thời, Bảo đã liên lạc bằng điện thoại với Trung nhưng không liên lạc được nên Bảo tìm hiểu và xác định được, chiếc xe ô tô c a mình đang bị cầm cố tại nhà bà Nguyễn Thị Khánh ở huyện Đ, tỉnh T nên đã làm đơn trình báo.
Với hành vi trên Viện kiểm sát truy tố Trần Văn V về các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại Điều 74 Bộ luật hình sự và Điều 34 Bộ luật hình sự.
Đối với Trần Đình Trung, Thông qua giao dịch dân sự ngay thẳng với Trần Trung Bảo bằng hợp đồng mua bán xe, Trung đã có được xe ô tô tải BKS 60C-329.55. Trong giao dịch này, Trung có nghĩa vụ phải hoàn tất khoản nợ ngân hàng từ việc Bảo mua xe ô tô nêu trên. Tuy nhiên, Trung đã khởi xướng việc làm giả biển số xe ô tô và Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô mang tên Vũ để Vũ cầm cố xe lấy tiền trả cho Trung. Hành vi c a Trung đã vi phạm pháp luật. Ngoài ra, hành vi c a Trung còn có dấu hiệu c a tội làm giả, sử dụng con dấu, tài liệu c a cơ quan, tổ chức; đồng thời, còn có dấu hiệu đồng phạm với vai trò khởi xướng, giúp sức để Vũ thực hiện hành vi Lừa đảo chiếm đoạt 200.000.000đ c a bà Nguyễn Thị Khánh. Hiện Trung đang bỏ trốn, chưa xác định được bị can Trung đang làm gì và ở đâu. Trung là bị can trong vụ án khác, do đó Cơ quan điều tra sẽ xử lý sau.
Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum truy tố Trần Văn V 04 lần thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tổng số tiền là: 1.080.000.000đ, trong đó chiếm đoạt c a bà Nguyễn Thị Khánh 950.000.000đ, chiếm đoạt c a Dương Công Hoàn 30.000.000đ; 02 lần thực hiện hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản số tiền là: 798.040.000đ, trong đó xe c a bà Trần Thị Kim Loan là 563.040.000đ, xe c a Trần Văn Lưu là 235.000.000đ.
Lần thứ năm: Trần Văn V cùng Nguyễn Phƣớc T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là chiếc xe ô tô nhãn hiệu MERCEDES-BENZ, loại 16 chỗ, BKS 92B-014.54.
Trong thời gian bị cơ quan điều tra truy nã, vào sáng ngày 02/12/2018 thì Trần Đình Trung cho Vũ biết, Trung đang điều khiển xe ô tô BKS 92B-014.54 từ Tp. Hồ Chí Minh về tỉnh Kon Tum, sau đó sẽ đi ra Quảng Nam và r Vũ đi cùng. Nghe vậy, Vũ nảy sinh ý định là sẽ trộm cắp chiếc xe ô tô c a Trung để bán hoặc cầm cố lấy tiền tiêu xài và Vũ r Nguyễn Phước T cùng đi ra Quảng Nam để cùng thực hiện việc trộm cắp xe ô tô trên với Vũ, đồng thời Vũ hứa hẹn sau khi trộm cắp được xe ô tô trên, Vũ sẽ chuộc lại điện thoại cho Tân mà Vũ đã cầm cố trước đó nên Tân đã đồng ý tham gia.
Sau khi, Vũ và Tân thống nhất cùng nhau thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, khoảng 9 giờ cùng ngày, Vũ và Tân cùng đón xe Taxi đi từ Tp. Kon Tum đến huyện Đăk Tô. Khi đến địa phận khối 6, thi trấn Đăk Tô, huyện Đăk Tô, Vũ bảo Tân chờ ở ngoài, còn Vũ vào nhà lấy tiền trả tiền taxi. Tân đã chờ Vũ khoảng hơn hai giờ nhưng vẫn không thấy Vũ ra nên Tân đề nghị tài xế điều khiển xe về lại Tp. Kon Tum rồi trả tiền. Khi đến Tp. Kon Tum, Tân liên hệ hỏi mượn tiền c a Nguyễn Thị Bích Hồng (sinh năm 2003, trú tại 30 Trần Cao Vân, TP. Kon Tum, tỉnh Kon Tum). Nhưng Hồng không có tiền nên Tân nợ tiền cước Taxi và Tân ở lại nhà c a Ngô Văn Thịnh mà không đi cùng Vũ ra tỉnh Quảng Nam.
Đến khoảng 02 giờ sáng ngày 03/12/2018, Trần Văn V đi ra Quốc lộ 4 để chờ Trung đến đón. Sau đó, Trung điều khiển xe BKS 92B-014.54 chở Vũ cùng Trần Đình Nghĩa (bố Trung); Nguyễn Thanh Quyết; Đinh Văn Thông cùng đi đến lán trại c a ông Nghĩa (thuộc địa phận thôn Rô, xã Cà Dy, huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam). Trên đường đi, khoảng 09 giờ cùng ngày, Vũ mượn điện thoại c a Trung liên lạc qua mạng xã hội (Facebook) nhắn tin cho Tân hỏi Tân đang ở đâu và để lại số điện thoại 03542069 để Tân liên lạc cho Vũ. Khoảng 3 giờ cùng ngày, Tân đọc được nội dung tin nhắn c a Vũ nên đã mượn điện thoại người thân c a Thịnh để gọi lại cho Vũ. Sau khi gọi vào số điện thoại 03542069 không liên lạc được, Tân đã gọi vào số 03593274 8 (là số điện thoại mà Vũ thường hay sử dụng trước đó) thì gặp được Vũ. Vũ đã thông báo nội dung: “ Trung đón tao lên trang trại ở Quảng Nam rồi, chỗ ông già nó ở, có gì nhớ giữ máy để tao gọi”. Theo nội dung đã bàn bạc trước đó, Tân biết Vũ sẽ trộm cắp xe ô tô c a Trung và mong muốn Vũ trộm được xe để cầm cố có tiền chuộc lại điện thoại cho mình nên khi trả lại điện thoại cho Thịnh, Tân còn dặn Thịnh khi nào có số máy lạ gọi tới thì đưa cho Tân nghe.
Sau khi đến rẫy c a ông Nghĩa, thì mọi người có tổ chức uống rượu rồi đi ng . Đến khoảng 0 giờ sáng ngày 04 2 20 8, lợi dụng mọi ng say. Vũ đã lén lút lấy chìa khóa xe ô tô BKS 92B-0 4.54 và ba lô c a ông Nghĩa treo trên tường đem ra lục lấy giấy tờ xe; sau đó Vũ vào nơi Trung đang ng lấy điện thoại di động nhãn hiệu Vivo V j c a Trung để trên đầu giường rồi Vũ điều khiển xe ô tô BKS 92B-0 4.54 ra đường hướng về Kon Tum. Sau khi, điều khiển xe ra tới đường, Vũ liền gọi điện ngay cho Tân thông báo là Vũ đã trộm cắp được xe ô tô c a Trung và yêu cầu Tân giữ máy chờ Vũ về đến Kon Tum sẽ gọi.
Trên đường về Kon Tum, đến địa phận thị trấn Khâm Đức, huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam, Vũ đã bán chiếc điện thoại di động trộm cắp được c a Trung cho anh Nguyễn Công Toàn (sinh năm 1986; trú tại khối 7, thị trấn Khâm Đức, huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam) được số tiền 3.200.000đ. Số tiền trên, Vũ dùng để đổ dầu cho xe ô tô và mua 0 chiếc đồng hồ (nhãn hiệu OMEGA Deville No 0757) tại huyện Đăk Glei, tỉnh Kon Tum. Khi đến huyện N, tỉnh T, Vũ liên hệ và nhờ Lê Hoài Thanh (sinh năm 1987; trú tại TDP 7, thị trấn Plei Kần, huyện Ngọc Hổi, tỉnh Kon Tum) tìm nơi để cầm cố xe ô tô mà Vũ vừa trộm cắp được. Thanh giới thiệu Vũ đến tiệm cầm đồ c a chị Nguyễn Thị Phương Trang, tại TDP 2, thị trấn Plei Kần, huyện N, tỉnh T. Tuy nhiên, sau khi xem giấy tờ xe, nhận thấy Vũ không phải là ch sở hữu chiếc xe ô tô trên nên chị Trang đã không đồng ý nhận cầm cố. Do không cầm cố được xe nên sáng ngày 05 2 20 8, Vũ tiếp tục điều khiển xe về thành phố Kon Tum để gặp Nguyễn Phước T. Cả hai cùng mang chiếc xe ô tô trên đi tìm nơi để tiêu thụ hoặc cầm cố thì bị lực lượng Công an phát hiện. Vũ đã bỏ trốn cho đến ngày ra đầu thú. Sau khi phát hiện bị mất tài sản là chiếc xe ô tô, ông Nghĩa đã làm đơn tố giác Vũ gửi đến Cơ quan CSĐT - Công an huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam.
Viện kiểm sát truy tố Vũ về tội “Trộm cắp tài sản” đối với chiếc xe ô tô và điện thoại, Nguyễn Phước T đồng phạm với Vũ về hành vi trộm chiếc xe ô tô theo quy định tại điểm c khỏan 2 Điều 73 Bộ luật hình sự.
- Bản kết luận định giá tài sản số 20 VBKL ngày 9 2 20 8 c a Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam kết luận: Tổng giá trị tài sản định giá tại thời điểm xảy ra vụ việc c a xe ô tô BKS: 92B-014.54 c a ông Trần Đình Nghĩa là 85.000.000 đồng.
- Bản kết luận định giá tài sản số 02 HDDGTS ngày 4 02 2020 c a Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam kết luận: Về giá trị tài sản định giá trong vụ án là 0 chiếc điện thoại nhãn hiệu Vivo V11j c a Trần Đình Trung loại màng hình cảm ứng, kích thước màng hình 6.3 inch là 7.500.000 đồng.
- Bản kết luận định giá số 06 KL - ĐG ngày 2 06 20 9 c a Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự tỉnh Kon Tum kết luận: Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại c a xe ô tô BKS: 82 -030.54 c a Lê Văn Phương là 707.823.666 đồng.
- Bản kết luận định giá số 03/KL - ĐG ngày 09 04 20 9 c a Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự tỉnh Kon Tum kết luận: Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại c a xe ô tô BKS: 60C-329.55 c a Trần Trung Bảo là 496.000.500 đồng.
- Bản kết luận định giá số 58 ĐG-TS ngày 26/10/2018 c a Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Kon Tum kết luận: Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại c a xe ô tô BKS: 82 -038.59 c a bà Trần Thị Kim Loan là 563.040.000 đồng.
- Bản kết luận định giá tài sản số 08 KL - ĐGTS ngày 06 20 8 c a Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Đ, tỉnh T kết luận: Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại c a xe ô tô BKS: 43 -249.90 c a Trần Văn Lưu là 235.000.000 đồng (Các bút lục số 365 - 410; 849 - 854)
- Tại Kết luận giám định số 55 GĐTP-2019 ngày 06 06 20 9 c a phòng KTHS-Công an tỉnh Kon Tum kết luận:
Phôi giấy “CHỨNG NHẬN ĐĂNG KÝ XE Ô TÔ” mang số 002842 đứng tên ch xe Trần Văn V (BKS 82A-030.54) đề cấp ngày 27 05 20 6(ký hiệu 0 ) với phôi giấy“CHỨNG NHẬN ĐĂNG KÝ XE Ô TÔ” mang số 005 54(ký hiệu M0 ) là không phải cùng mẫu phôi.
2 Hình dấu tròn trên giấy“CHỨNG NHẬN ĐĂNG KÝ XE Ô TÔ” mang số 002842 đứng tên ch xe Trần Văn V đề cấp ngày 27/05/2016 (ký hiệu 0 ) với hình dấu tròn trên “BIÊN BẢN LÀM VIỆC” ngày 28 20 8(ký hiệu M02) là không phải do cùng một con dấu đóng ra.
3 Chữ ký đứng tên Nguyễn Công Tuấn trên giấy “CHỨNG NHẬN ĐĂNG KÝ XE Ô TÔ” mang số 002842 đứng tên ch xe Trần Văn V đề cấp ngày 27 05 20 6(ký hiệu 0 ) với chữ ký c a đồng chí Nguyễn Công Tuấn trên “BIÊN BẢN LÀM VIỆC” ngày 28 20 8(ký hiệu M02) là không phải do cùng một ngƣời ký ra.
4 Chữ ký, chữ viết đứng tên Trần Văn V trên 05 tài liệu cần giám định(ký hiệu 02; 03; 04; 05; 06) với chữ viết, chữ ký c a Trần Văn V trên 02 “BẢN TỰ KH I” (ký hiệu M03; M04) là do cùng một ngƣời viết ra.
- Tại Kết luận giám định số 28 GĐTP-20 8 ngày 3 2 20 8 c a phòng KTHS-Công an tỉnh Kon Tum kết luận:
Phôi giấy “CHỨNG NHẬN ĐĂNG KÝ XE Ô TÔ” cần giám định mang số 006203 với phôi giấy “CHỨNG NHẬN ĐĂNG KÝ XE Ô TÔ” mẫu so sánh số 005 85 là không phải cùng mẫu phôi.
2 Chữ ký đứng tên Nguyễn Công Tuấn trên giấy “CHỨNG NHẬN ĐĂNG KÝ XE Ô TÔ” cần giám định mang số 006203 với chữ ký cùng tên do phòng cảnh sát giao thông – Công an tỉnh Kon Tum cung cấp là không phải do cùng một ngƣời ký ra.
3 Hình dấu tròn màu đỏ đóng trên giấy “CHỨNG NHẬN ĐĂNG KÝ XE Ô TÔ” cần giám định mang số 006203 là hình dấu đƣợc làm giả bằng hình thức in phun màu điện tử.
- Tại Kết luận giám định số 87 KLGĐ ngày 27 2 20 8 c a phòng KTHS-Công an tỉnh Gia Lai kết luận:
+ “CHỨNG NHẬN ĐĂNG KÝ XE Ô TÔ”, số 062583(mẫu cần giám định ký hiệu ) là giả.
+ 02(hai) biển số xe ô tô: 82C-035.68 (mẫu cần giám định ký hiệu 2 và 3) với 02(hai) biển số xe ô tô: 82C-025.80 (mẫu so sánh ký hiệu M3 và M4) là không phải do cùng một khuôn đúc dập in ra (Bút lục số: 35 – 364).
Tại bản Cáo trạng số 16/CT-VKS-P2 ngày 12/5/2020 c a Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum truy tố bị cáo Trần Văn V về các tội:“Trộm cắp tài sản; Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo điểm c khoản 2 Điều 73; điểm a khoản 4 Điều 74 ; khoản 4 Điều 75 và khoản 3 Điều 34 Bộ luật hình sự năm 20 5; Bị cáo Nguyễn Phước T về tội: “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 73 Bộ luật hình sự năm 20 5;
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên Cáo trạng số 16/CT-VKS-P2 ngày 12/5/2020 và đề nghị tuyên xử :
- Bị cáo Nguyễn Phước T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng: Điểm c khoản 2 Điều 73; điểm s khoản Điều 5 Bộ luật Hình sự năm 20 5;
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Phước T từ 02 đến 03 năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 12/11/2019.
- Bị cáo Trần Văn V phạm các tội :“Trộm cắp tài sản; Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”
+ Áp dụng: Điểm c khoản 2 Điều 73; điểm s khoản , khoản 2 Điều 5 Bộ luật Hình sự năm 20 5;
Xử phạt: Bị cáo Trần Văn V từ 02 đến 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”
+ Áp dụng: Điểm a khoản 4 Điều 74; điểm s khoản , khoản 2 Điều 5 ; Điểm g khoản Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 20 5;
Xử phạt: Bị cáo Trần Văn V 3 đến 4 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
+ Áp dụng: Khoản 4 Điều 175; điểm s khoản , khoản 2 Điều 5 ; Điểm g khoản Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 20 5;
Xử phạt: Bị cáo Trần Văn V từ 2 đến 3 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
+ Áp dụng: Điểm b khoản 3 Điều 34 ; điểm s khoản , khoản 2 Điều 5 ; Điểm g khoản Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 20 5;
Xử phạt: Bị cáo Trần Văn V 03 đến 04 năm tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức”.
Áp dụng: Khoản Điều 55 c a Bộ luật Hình sự năm 20 5, tổng hợp hình phạt c a cả 04 tội, bị cáo Trần Văn V phải chịu hình phạt chung là 30 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 14/12/2018.
Về trách nhiệm dân sự: Yêu cầu bị cáo Trần Văn V bồi thường cho bà Khánh tổng số tiền là 950.000.000đ, anh Dương Công Hoàn số tiền 30.000.000đ. Còn số tiền 7.500.000đ chiếc điện thoại c a Trần Đình Trung thì Trung đang bỏ trốn trong một vụ án khác, không xác định được Trung có yêu cầu hay không nên cần tách phần này để giải quyết bằng vụ án dân sự khi có yêu cầu.
Ngoài ra, yêu cầu xử lý vật chứng và án phí theo quy định c a pháp luật.
Tại phiên tòa các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng có mặt giữ nguyên các lời khai trong quá trình điều tra.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Vũ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ để xử phạt bị cáo mức án phù hợp. Việc thực hiện một số hành vi c a bị cáo do có sự khởi xướng c a Trần Đình Trung đề nghị xem xét.
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đ , toàn diện chứng cứ, ý kiến c a Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[ ] Về hành vi, quyết định tố tụng c a cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, th tục quy định c a Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình từ giai đoạn điều tra đến phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định c a cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng c a cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án, tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội c a mình, lời khai c a các bị cáo phù hợp với lời khai c a các bị hại, những người làm chứng và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đ cơ sở kết luận:
Từ khoảng tháng 4 20 8 đến tháng 0 20 8, Trần Văn V đã thực hiện các hành vi phạm tội sau:
Lần phạm tội thứ nhất: Ngày 12/4/2018, Trần Văn V nhờ Nguyễn Văn Tuấn thuê xe ô tô tự lái BKS 82A-038.59 c a bà Trần Thị Kim Loan để sử dụng. Sau một thời gian, Vũ gặp Trần Đình Trung và theo lời đề nghị c a Trung, Vũ đồng ý để Trung làm giả giấy tờ xe mang tên Trần Văn V để Vũ cầm cố lấy tiền trả cho Trung và tiêu xài. Đến ngày 03 8 20 8 Vũ dùng giấy tờ giả xe ô tô trên đến tiệm cầm đồ c a bà Nguyễn Thị Khánh, Vũ đã đưa ra thông tin gian dối là cần tiền để thu mua nông sản, bà Khánh thấy xe phù hợp với các giấy tờ kèm theo đã tin tưởng xe ô tô là c a Vũ, đồng ý cầm cố với số tiền 400.000.000đ. Kết luận giám định Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô BKS 82 - 038.59 số 006203 mang tên Trần Văn V là giả và kết luận định giá xe ô tô trên có giá là 563.040.000đ.
Với hành vi trên thấy rằng: Khi Vũ có được tài sản là xe c a bà Loan bằng hình thức hợp đồng hợp pháp, sau đó do lời đề nghị c a Trung, Vũ nảy sinh ý định dùng th đoạn gian dối làm giả giấy tờ mang tên Vũ và đưa ra thông tin gian dối là cần tiền để thu mua nông sản, cung cấp giấy tờ giả mang tên Trần Văn V để cầm cố xe với số tiền 400.000.000đ c a bà Khánh. Với các hành vi đó đ cơ sở để khẳng định Trần Văn V đã có hành vi “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” đối với bà Loan; “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” c a bà Khánh và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại Điều 75, Điều 174, Điều 34 Bộ luật hình sự đúng như Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum truy tố là có căn cứ.
Lần phạm tội thứ hai: Khoảng đầu tháng 7/2018, Trần Văn V đã thuê xe ô tô c a anh Trần Văn Lưu để sử dụng, đến ngày 07 7 20 8 Vũ đến gặp Dương Công Hoàn và đưa ra thông tin xe do Vũ mới mua c a một người ở Đà Nẵng nhưng chưa kịp sang tên đổi ch để cầm cố xe với số tiền 30.000.000đ. Kết luận định giá xe c a Trần Văn Lưu BKS: 43A-249.90 có giá 235.000.000đ.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Vũ khai rằng mục đích thuê xe c a anh Lưu là để đi lại và đi được 2 đến 3 ngày do có người đòi nợ nên mới nảy sinh ý định cầm cố để trả nợ. Do vậy, hành vi c a bị cáo đ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” đối với anh Lưu như Viện kiểm sát đã truy tố.
Ngoài hành vi lạm dụng đối với anh Lưu, Viện kiểm sát còn truy tố Vũ có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản đối với anh Hoàn là chưa chính xác vì: Tuy Vũ có đưa ra thông tin gian dối với anh Hoàn nhưng hành vi chiếm đoạt xe ô tô c a anh Lưu hoàn thành kể từ khi cầm cố cho anh Hoàn và dùng tiền cầm cố để tiêu xài, do vậy, việc cầm cố xe cho anh Hoàn chỉ là giao dịch dân sự.
Lần phạm tội thứ ba: Tháng 8/2018, Trần Văn V thuê xe ô tô BKS 82A-030.54 c a anh Lê Văn Phương, sau hơn một tháng sử dụng, Trần Văn V đã nãy sinh ý định cầm cố chiếc xe lấy tiền tiêu xài. Để thực hiện hành vi Vũ đã liên hệ với Trần Đình Trung nhờ Trung làm giả giấy tờ mang tên Vũ. Ngày 07 9 20 8, Vũ đến nhà bà Nguyễn Thị Khánh đưa ra thông tin gian dối là cần có tiền để làm ăn, bà Khánh tin tưởng cầm cố xe với số tiền 350.000.000đ. Sau đó anh Phương gọi cho Vũ cần lấy xe để đi bảo dưỡng, Vũ đã đến thuê lại chính xe mà Vũ cầm cho bà Khánh và mang xe đó đi trả lại cho Phương. Kết luận giám định Giấy chứng nhận đăng ký xe số 002842 mang tên Trần Văn V là giả.
Với các hành vi sử dụng tài liệu giả để đưa ra thông tin gian dối đối với bà Khánh làm cho bà Khánh tin tưởng và đã đồng ý nhận cầm cố xe đ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại các Điều 174 và 341 c a Bộ luật hình sự như truy tố c a viện kiểm sát là đúng quy định.
Đối với hành vi Vũ thuê xe ô tô c a Lê Văn Phương bằng hợp đồng, sau đó đã cầm cố cho bà Khánh, nhưng Vũ đã trả lại cho ch sở hữu là Lê Văn Phương vào ngày 03 0 20 8, việc trả lại c a Vũ là tự nguyện không bị ai ép buộc và trước thời điểm Cơ quan điều tra thụ lý tố giác c a bà Khánh. Viện kiểm sát không truy tố Vũ về hành vi này là phù hợp vì xe c a Phương thì Vũ đã trả lại và không có mục đích chiếm đoạt.
Lần phạm tội thứ tư: Tháng 9 20 8 Trần Đình Trung có mua xe ô tô BKS 60C-329.55 c a Trần Trung Bảo, sau đó do Vũ đang nợ tiền c a Trung nên Trung đề nghị Vũ làm giả giấy tờ xe mang tên Vũ để cầm cố. Khi Trung khởi xướng thì Vũ đồng ý, ngày 29/9/2018 Vũ mang ô tô nói trên cùng các giấy tờ giả mang tên Trần Văn V đến nhà bà Nguyễn Thị Khánh để cầm cố với số tiền 200.000.000đ. Kết luận giám định Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô BKS 82C-035.68 mang tên Trần Văn V là giả.
Với hành vi Vũ sử dụng giấy tờ xe giả, dùng th đoạn gian dối để bà Khánh tin tưởng và bà Khánh đã đồng ý cầm cố xe. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum truy tố Vũ về các tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại các Điều 341 và 74 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Như vậy, Trần Văn V đã 03 lần thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản tổng số tiền là 950.000.000đ c a bà Nguyễn Thị Khánh; Trần Văn V 02 lần thực hiện hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản tổng số tiền là 798.040.000đ gồm: 01 xe ô tô c a bà Trần Thị Kim Loan trị giá 563.040.000đ và 0 xe ô tô c a anh Trần Văn Lưu trị giá 235.000.000đ. Do đó, có đ cơ sở kết luận Trần Văn V phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 74; khoản 4 Điều 75 Bộ luật hình sự năm 20 5.
Về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” để chiếm đoạt tài sản, theo Công văn 2 2 ngày 3 9 20 9 và Công văn 233 ngày 0 0 20 9 c a Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn Hành vi sử dụng tài liệu giả c a cơ quan, tổ chức để lừa đảo chiếm đoạt tài sản đã xâm phạm vào 02 khách thể khác nhau nên có đ các yếu tố cấu thành hai tội. Do đó, Vũ đã ba lần sử dụng tài liệu giả c a cơ quan tổ chức để thực hiện hành vi phạm tội theo khoản 3 Điều 34 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát truy tố là đúng quy định.
Lần phạm tội thứ năm: Trong thời gian bị cơ quan điều tra truy nã, vào sáng ngày 02 2 20 8 Vũ cùng Nguyễn Phước T ra huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam để trộm xe ô tô c a Trần Đình Trung (Xe BKS 92B-014.54). Hai người cùng nhau đi đến huyện Đăk tô, sau đó Tân quay về thành phố Kon Tum. Quá trình một mình Vũ đi đến Quảng Nam thì Vũ và Tân vẫn giữ liên lạc cũng như thông báo cho nhau. Lúc 0 giờ sáng ngày 04 2 20 8, lợi dụng những người trong lán trại c a ông Nghĩa đã ng say, Vũ đã lén lút trộm xe ô tô BKS 92B-014.54 (Xe này ông Nghĩa mua c a một người khác chưa sang tên) và một điện thoại di động hiệu Vivo V j c a Trung, khi lấy được xe Vũ đã liên lạc với Tân sau đó mang xe về Kon Tum và cùng nhau đi tiêu thụ thì bị bắt. Xe ô tô trên có giá là 85.000.000 đồng, 01 chiếc điện thoại c a Trần Đình Trung hiệu Vivo V j là 7.500.000 đồng, tổng tài sản mà Vũ Trộm cắp là 92.500.000đ.
Với hành vi trên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum truy tố Trần Văn V về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 73 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Đối với hành vi c a Nguyễn Phước T, tuy không trực tiếp tham gia cùng Vũ thực hiện hành vi trộm cắp xe ô tô. Nhưng giữa Vũ và Tân đã có sự bàn bạc thống nhất từ trước, đồng thời giữa Vũ và Tân giữ liên lạc trong suốt quá trình Vũ thực hiện hành vi trộm cắp, Tân đã cùng Vũ đi tìm cách tiêu thụ tài sản trước khi bị phát hiện. Do đó, Hành vi c a Tân đ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” với vai trò đồng phạm giúp sức về mặt tinh thần đối với xe ô tô theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 73 Bộ luật hình sự. Đối với chiếc điện thoại Vũ trộm chưa lấy được lời khai c a Trung, nhưng Vũ đã xác định điện thoại này là c a Trung vì đi trên xe ô tô Vũ mượn chiếc điện thoại này để nhắn tin với Tân. Ngoài ra, những người làm chứng Đặng Văn Thông và Nguyễn Thanh Quyết khai tại hồ sơ cũng đã xác định chiếc điện thoại này là c a Trung. Do đó, buộc Vũ phải chịu trách nhiệm về hành vi này là đúng quy định c a pháp luật.
Hành vi c a các bị cáo đã xâm phạm đến khách thể được pháp luật bảo vệ là quyền sở hữu tài sản c a người khác, riêng hành vi c a Vũ còn xâm phạm đến hoạt động đúng đắn bình thường c a các cơ quan Nhà nước, tổ chức gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn. Các bị cáo là người có đầy đ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi, biết việc làm c a mình trái pháp luật nhưng vẫn thực hiện để lợi ích cá nhân. Đối với hành vi trộm cắp tài sản c a Nguyễn Phước T đóng vai trò thứ yếu giúp sức về mặt tinh thần và chỉ chịu trách nhiệm đối với xe c a ông Nghĩa nên cần xem xét khi lượng hình.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ áp dụng đối với các bị cáo:
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội c a mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản Điều 5 Bộ luật Hình sự năm 2015 áp dụng cho các bị cáo được hưởng.
Đối với bị cáo Vũ trong quá trình phạm tội Vũ đã bỏ trốn và bị truy nã đến ngày 14/12/2018 Vũ đã ra đầu thú nên áp dụng tình tiết khoản 2 Điều 5 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Tân không có tình tiết tăng nặng.
Đối với bị cáo Vũ đã 03 lần thực hiện hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, 02 lần “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, 03 lần “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức”. Cần áp dụng tình tiết tăng nặng tại điểm g khoản Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. Ngoài ra, Trần Văn V có nhân thân xấu, ngày 29 08 20 4 bị Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh T xử phạt 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, các hành vi phạm tội để xử phạt các bị cáo mức án phù hợp, tương xứng với các hành vi phạm tội c a các bị cáo đã gây ra, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đ sức răn đe và phòng ngừa chung.
Hình phạt bổ sung: Theo quy định thì các bị cáo còn có thể bị xử phạt tiền. Tuy nhiên, xét thấy các bị cáo đều không có tài sản gì, nghề nghiệp không ổn định, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bà Nguyễn Thị Khánh yêu cầu bị cáo Trần Văn V bồi thường tổng số tiền là 950.000.000đ mà bị cáo đã chiếm đoạt. Xét thấy yêu cầu c a bà Khánh có căn cứ nên buộc bị cáo Vũ phải bồi thường cho bà Khánh.
Đối với anh Dương Công Hoàn yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 30.000.000đ là có căn cứ, yêu cầu bị cáo bồi thường cho anh Hoàn.
Đối với 01 chiếc điện thoại hiệu Vivo V j có giá 7.500.000 đồng mà Vũ đã trộm cắp c a Trần Đình Trung. Trong quá trình điều tra không thu được chiếc điện thoại, Trần Đình Trung đang bỏ trốn trong một vụ án khác, không xác định được Trung có yêu cầu bị cáo Vũ bồi thường hay không nên cần tách phần này để giải quyết bằng vụ án dân sự khi Trung có yêu cầu.
Về những chiếc xe ô tô liên quan đến ông Trần Đình Nghĩa, Lê Văn Phương, Trần Trung Bảo, Trần Thị Kim Loan, Trần Văn Lưu các ch sở hữu đã nhận lại xe, không ai yêu cầu bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Trong vụ án còn có những người liên quan như:
Nguyễn Văn Tuấn: Vì tin tưởng thông tin Vũ đưa ra tại thời điểm Vũ nhờ Tuấn đứng ra thuê xe ô tô tự lái cho Vũ là có thật nên đã đồng ý đi thỏa thuận, ký hợp đồng thuê xe c a bà Loan. Tuy nhiên, sau đó, bà Loan biết thực tế Vũ là người thuê xe và thực hiện nghĩa vụ trả tiền thuê xe; đồng thời, giữa Vũ và Tuấn không có sự bàn bạc cũng như Tuấn không biết mục đích thuê xe c a Vũ nhằm mục đích phạm tội. Do đó, hành vi c a Tuấn không cấu thành tội là phù hợp.
Đối với Trần Đình Trung: Trung Là bị can trong vụ án đã bị khởi tố, Trần Đình Trung đã bỏ trốn khỏi địa phương, hiện nay chưa xác định được Trung đang làm gì, ở đâu. Do đó, Cơ quan điều tra tiếp tục, điều tra làm rõ và xử lý sau.
Nguyễn Hoàng Phƣơng: Không bàn bạc với Vũ, cũng như không biết được ý thức chiếm đoạt c a Vũ nên hành vi c a Phương không cấu thành tội phạm với vai trò đồng phạm với Vũ. Do đó, Cơ quan điều tra không xem xét, xử lý trách nhiệm hình sự đối với Phương là có cơ sở.
Đối với Trần Văn Chung: Khi giữa Vũ, Phương và Hoàn tiến hành giao dịch việc cầm cố xe ô tô, thì Chung không biết, không tham gia. Đồng thời, giữa Chung và Vũ không trao đổi, bàn bạc về nội dung liên quan đến chiếc xe 43 -249.90. Do đó, hành vi c a Chung không cấu thành tội phạm với vai trò đồng phạm với Vũ.
Đối với Đặng Quang Dũng: Dũng là người được bà Nguyễn Thị Khánh giao và quản lý xe ô tô BKS 82A-030.54 để chở Vũ đi Kon Tum đám cưới. Quá trình sử dụng xe Dũng đã tin tưởng thông tin Vũ đưa ra là thật nên đã giao xe ô tô cho Vũ với mục đích là đi bảo dưỡng xe. Giữa Dũng và Vũ không có sự bàn bạc, thỏa thuận về việc cùng lừa dối bà Khánh để lấy lại xe trả cho anh Phương. Do đó, Cơ quan điều tra đã không xem xét, xử lý trách nhiệm hình sự đối với Dũng là có căn cứ.
Đối với Nguyễn Thành Tâm: Tâm khai đã cùng Trung vào Đồng Nai để mua xe ô tô BKS 60C-329.55. Tuy nhiên, quá trình thỏa thuận giữa Trung và Bảo, Tâm không biết. Đồng thời, Tâm khai việc đã phụ Trung tháo Biển số xe, bóc gỡ đề can biển kiểm soát và phù hiệu trên thành xe và là người trực tiếp đi đặt cắt đề can biển số là theo yêu cầu c a Trung. Tâm không biết Trung làm giả biển kiểm soát và cũng không biết việc Vũ được sự đồng ý c a Trung đã cầm cố chiếc xe ô tô tải trên để thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt số tiền 200.000.000đ c a bà Nguyễn Thị Khánh. Hơn nữa, chưa có lời khai c a Trung về nội dung này nên chưa có cơ sở xác định trách nhiệm hình sự c a Tâm trong vụ án này.
Về vật chứng c a vụ án: Trong quá trình điều tra thu giữ các vật chứng xét thấy:
- Một bộ kiểm soát xe ô tô số 82C-035.68 (gồm một biển số dài và một biển số ngắn) Vũ dùng vào việc phạm tội, tuy nhiên liên quan đến vụ án Trần Đình Trung đang điều tra. Do đó, giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Kon Tum giữ để phục vụ cho quá trình điều tra vụ án Trần Đình Trung.
- Một ví da màu đen bên ngoài có chữ RM NI, bên trong không có gì c a Vũ nên trả lại cho Vũ
- Một chiếc đồng hồ hiệu OMEG deville No 0757 bằng kim loại màu vàng, đã qua sử dụng. Đây là tài sản Vũ dùng tiền phạm tội mà có để mua nên tịch thu sung quỹ nhà nước.
- Một USB nhãn hiệu Sandisk màu đỏ, dung lượng 8GB bên trong có chứa 02 File dữ liệu điện tử được trích xuất từ Camera gia đình. Cụ thể như sau: File thứ nhất có dung lượng 78,6MB; File thứ hai có dung lượng 78,6MB. Xét thấy USB này không phải c a ông Lê Quang Lâm mà trong quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra đã dùng để sao các file trích xuất từ Camera gia đình nên trả lại cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Kon Tum.
- Về những giấy tờ gồm: Giấy chứng nhận đăng ký xe số 062583, số 002842, số 006203 là giả mang tên Trần Văn V. Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS c a ch xe ô tô số D 7 0 78838 c a Công ty CP bảo hiểm Hàng không (Bản chính). Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS c a ch xe ô tô số 800 5436 c a Công ty CP bảo hiểm Bưu điện (Bản chính). Xét thấy, những giấy tờ này liên quan đến vụ án c a Trần Đình Trung đang điều tra nên xét thấy cần lưu giữ theo hồ sơ vụ án để phục vụ cho quá trình điều tra khi cần thiết.
- Đối với chứng minh nhân dân c a Lê Hoài Thanh, cơ quan điều tra đã trả lại cho Thanh là phù hợp.
Về án phí: Buộc các bị cáo Trần Văn V và Nguyễn Phước T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ. Riêng bị cáo Trần Văn V phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền 1.080.000.000 cụ thể: 36.000.000đ + 3% x ( .080.000.000đ - 800.000.000đ) = 44.400.000đ
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phƣớc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng: Điểm c khoản 2 Điều 73; điểm s khoản Điều 5 ; Điều 7; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 20 5;
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Phước T 02 (Hai) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 12/11/2019.
2. Tuyên bố bị cáo Trần Văn V phạm các tội :“Trộm cắp tài sản; Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”
+ Áp dụng: Điểm c khoản 2 Điều 73; điểm s khoản , khoản 2 Điều 5 ; Điều 7; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 20 5;
Xử phạt: Bị cáo Trần Văn V 03 (Ba) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”
+ Áp dụng: Điểm a khoản 4 Điều 74; điểm s khoản , khoản 2 Điều 5 ; Điểm g khoản Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 20 5;
Xử phạt: Bị cáo Trần Văn V 14 (Mười bốn) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
+ Áp dụng: Khoản 4 Điều 75; điểm s khoản , khoản 2 Điều 5 ; Điểm g khoản Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 20 5;
Xử phạt: Bị cáo Trần Văn V 13 (Mười ba) năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
+ Áp dụng: Khoản 3 Điều 34 ; điểm s khoản , khoản 2 Điều 5 ; Điểm g khoản Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 20 5;
Xử phạt: Bị cáo Trần Văn V 04 (Bốn) năm tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức”.
Áp dụng: Khoản Điều 55 c a Bộ luật Hình sự năm 2015, tổng hợp hình phạt c a 04 tội, bị cáo Trần Văn V phải chịu hình phạt chung là 30 (Ba mƣơi) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (Ngày 14/12/2018).
3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 c a Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự năm 20 5;
Buộc bị cáo Trần Văn V phải bồi thường cho bà Nguyễn Thị Khánh số tiền 950.000.000đ (Chín trăm năm mươi triệu đồng) và anh Dương Công Hoàn số tiền 30.000.000đ (Một trăm ba mươi triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không chấp hành thì phải chịu lãi suất theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, về trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền, tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án.
4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự năm 20 5; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 20 5
- Trả lại cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Kon Tum:
Một USB nhãn hiệu Sandisk màu đỏ, dung lượng 8GB bên trong có chứa 02 File dữ liệu điện tử được trích xuất từ Camera gia đình. Cụ thể như sau: File thứ nhất có dung lượng 78,6MB; File thứ hai có dung lượng 78,6MB
- Tịch thu sung quỹ nhà nước: Một chiếc đồng hồ hiệu OMEG deville No 0757 bằng kim loại màu vàng, đã qua sử dụng kèm hóa đơn đề ngày 04 2 20 8.
- Trả lại cho bị cáo Trần Văn V 01 ví da màu đen bên ngoài có chữ ARMANI
- Giao Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Kon Tum giữ một bộ kiểm soát xe ô tô số 82C-035.68 (gồm một biển số dài và một biển số ngắn).
(Tất cả các vật chứng trên theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/7/2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Kon Tum và Cục thi hành án dân sự tỉnh Kon Tum)
- Lưu theo hồ sơ vụ án: Giấy chứng nhận đăng ký xe số 062583, số 002842, số 006203 là giả mang tên Trần Văn V. Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS c a ch xe ô tô số D 7 0 78838 c a Công ty CP bảo hiểm Hàng không (Bản chính). Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS c a ch xe ô tô số 800 5436 c a Công ty CP bảo hiểm Bưu điện (Bản chính).
5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 36 Bộ luật tố tụng hình sự năm 20 5; Điều 2 ; điểm a, c khoản Điều 23 Nghị quyết số 326 20 6 UBTVQH ngày 30 tháng 2 năm 20 6 quy định về mức thu, miễn giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí tòa án.
Buộc bị cáo Trần Văn V phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 44.400.000đ (Bốn mươi bốn triệu bốn trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Buộc bị cáo Nguyễn Phước T phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm
6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 33 , Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày tuyên án (27/7/2020), các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo; đối với bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định c a pháp luật để xin xét xử theo trình tự phúc thẩm.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - T ND cấp cao tại Đà Nẵng; - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng; - VKSND tỉnh Kon Tum; - Cơ quan CSĐTC tỉnh KT; - Phòng TH HS, HSNV C tỉnh KT; - Cục TH DS tỉnh KT; - Trại tạm giam C tỉnh KT; - UBND xã Kon Đào; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu: VP, hồ sơ vụ án. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nhƣ Mai THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |