- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Ng T L phạm tội trộm cắp tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN BẮC TỈNH NINH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2020/HS-ST Ngày: 23/12/2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN BẮC - TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Minh Đăng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Xuân Hiền
2. Ông Nguyễn Hƣng
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Việt Hùng – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Thuận Bắc - tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Bắc tham gia phiên tòa: Bà Lƣơng Thị Huệ - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 12 năm 2020, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 16/2020/HSST ngày 20/11/2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2020/QĐST-HS ngày 08/12/2020, đối với bị cáo:
NG T L, tên gọi khác: G đ; sinh năm 1977. Nơi sinh: Ninh Thuận. Nơi cư trú: Thôn B Th, xã B Ph, huyện Th B, tỉnh Ninh Thuận. Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 5/12. Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ. Tôn giáo: không. Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ng V M (đã chết) và bà Ng Th Th, sinh năm 1949. Chồng tên Tr V H, sinh năm 1977. Bị cáo có 02 người con lớn nhất 20 tuổi, nhỏ nhất 12 tuổi. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 25/4/2011 bị công an huyện Thuận Bắc xử phạt hành chính 1.000.000 đồng về hành vi đánh bạc. Bị cáo hiện đang thực hiện lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt)
- Người bị hại: Chị B T C C, sinh năm 1985. Nơi cư trú: Thôn B T, xã B Ph, huyện Th B, tỉnh Ninh Thuận. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 23/10/2020, Ng T L điều khiển xe mô tô biển số 85H1 – 042.22 qua nhà chị B T C C cùng thôn để chơi. Khi đến nhà chị C thấy cửa mở nhưng không có người nên Ng T L đã nảy sinh ý định trộm tài sản. L đi vào phòng khách nhìn thấy chiếc tủ gỗ loại 3 cánh, có chìa khoá, L mở cửa tủ phát hiện có 01 hộp tròn bên trong có 01 cọc tiền nên L đã lấy cọc tiền bỏ vào túi áo rồi chạy xe về nhà mình cất giấu. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, chị C về nhà và phát hiện bị mất tiền nên đã trình báo công an xã Bắc Phong. Qua điều tra xác định Ng T L đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của chị C.
Tại Cáo trạng số: 15/CT-VKS-TB ngày 19/11/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Bắc đã truy tố Ng T L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự (BLHS).
Tại phiên tòa bị cáo Ng T L khai nhận ngày 23/10/2020, bị cáo qua nhà chị chơi nhưng thấy nhà không có người nên đã lén lút trộm cắp số tiền 13.791.000 đồng của chị B T C C.
Người bị hại chị B T C C trình bày: Chị xác nhận ngày 23/10/2020 lợi dụng lúc chị không có ở nhà bị cáo Ng T L đã trộm số tiền 13.791.000 đồng. Trong quá trình điều tra giải quyết vụ án, bị hại đã nhận lại được tài sản. Tại phiên toà bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên Cáo trạng truy tố đối với bị cáo về tội danh như trên và đề nghị HĐXX:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Loan từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng.
Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị HĐXX quyết định về các Biện pháp tư pháp, án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người bị hại không có ý kiến tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo nói lời nói sau cùng có nội dung cụ thể như sau: “Bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của mình là trái pháp luật, rất hối hận và mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo”.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thuận Bắc, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Bắc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Tại phiên tòa, bị cáo Ng T L khai nhận ngày 23/10/2020, bị cáo đã lén lút trộm cắp của chị B T C C số tiền 13.791.000 đồng. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa, hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, khẳng định cáo trạng 15/CT-VKS-TB ngày 19/11/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Bắc đã truy tố Ng T L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của BLHS là có cơ sở, đúng pháp luật.
. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng do bản chất lười lao động, muốn chiếm đoạt trái phép tài sản của người khác nên đã cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, HĐXX khẳng định bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Tội và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của BLHS. Bị cáo là người có nhân thân xấu ngày 25/4/2011 bị công an huyện Thuận Bắc xử phạt hành chính 1.000.000 đồng về hành vi đánh bạc. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất của hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện nhằm mục đích giáo dục, cải tạo bị cáo nói riêng đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi quyết định mức hình phạt cần giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo vì ban đầu bị cáo không có ý định thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ như sau: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tại phiên toà người bị hại xin giảm nhẹ cho bị cáo. Các tình tiết này được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên HĐXX áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự, cho bị cáo được hưởng án treo theo quy định pháp luật.
Xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã tạm giữ và trả lại số tiền 13.791.000 đồng cho chị Bùi Thị Chi Chi.
Đối với chiếc xe mô tô 85H1 – 042.22 bị cáo Loan sử dụng để đi đến nhà chị C, qua điều tra xác định bị cáo sử dụng chiếc xe trên qua nhà chị C với mục đích là đi chơi chứ không nhằm phục vụ cho việc trộm cắp tài sản nên không tiến hành thu giữ để xử lý. Vì vậy HĐXX không xem xét.
Về trách nhiệm dân sự và các vấn đề khác:
- Quá trình điều tra, tại phiên toà, người bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường về trách nhiệm dân sự nên HĐXX không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí HSST theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của BLHS.
Tuyên bố bị cáo Ng T L phạm tội trộm cắp tài sản.
Xử phạt bị cáo 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Bắc Phong, huyện Thuận Bắc nơi bị cáo đang cư trú để giám sát, giáo dục. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự. Trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Ng T L phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, người bị hại. Quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 23/12/2020).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh NT; - VKSND tỉnh NT; - VKSND huyện TB; - Công an huyện TB (02 bản); - Các bị cáo; người bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Chi cục THADS huyện TB, THA phạt tù; - Lưu (hồ sơ, án văn). | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Ngô Minh Đăng |