- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tấn sĩ phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn S phạm tội “Trộm cắp t i sản”.
- Căn cứ chính? luật Tố tụng h nh sự v Nghị; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH L Bản án số: 19/2020/HS-ST Ngày: 30/7/2020 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ
TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Rung K’Nhơn
Các Hội thẩm nhân dân:
+ Ông: Trần Đức Bắc
+ Ông: Tô Hiến Tiến
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa : Bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt –Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đam Rông tham gia phiên tòa:
Ông Trương Văn Dương – Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 30 tháng 7 năm 2020, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đ. Tòa án nhân dân huyện Đ mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 26/2020/HSST ngày 16 tháng 7 năm 2020, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2020/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Tấn S; Giới tính: Nam. Tên gọi khác: (không). Sinh ngày 08 tháng 10 năm 1993 tại L. Nơi ĐKHKTT: Xã Đ, huyện Đ, tỉnh L. Chỗ ở hiện nay: Thôn P, xã Đạ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Làm nông. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: (không). Họ tên cha: Nguyễn Văn L (đã chết). Họ tên mẹ: Giang Thị T, sinh năm 1965. Hiện đang sinh sống tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Chị, em ruột: Có 03 người, lớn nhất sinh năm 1988, nhỏ nhất là bị cáo. Vợ, con: (chưa có).Tiền án, tiền sự: (không).
Nhân thân: Ngày 09/11/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh L xử phạt 18 tháng tù về Tội trộm cắp tài sản; chấp hành xong ngày 11/11/2016.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/4/2020, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ-Công an huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
* Người bị hại:
Bà Nguyễn Thị Bích N; Sinh năm: 1997,
ông Nguyễn Quốc D; Sinh năm: 1990.
Chỗ ở hiện nay: Thôn P, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Họ và tên: Nguyễn Văn Ú; Sinh năm: 1987; Nơi sinh: Ninh Thuận.
Chỗ ở hiện nay: Thôn P, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng
2. Họ và tên: Nguyễn Văn T; Sinh năm: 1985; Nơi sinh: Lâm Đồng.
Chỗ ở hiện nay: Thôn L, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng
3. Họ và tên: Giang Thị T; Sinh năm: 1965
Chỗ ở hiện nay: Thôn P, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Tất cả đều có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Tấn S l người nghiện ma túy, kh ng có c ng việc n định. S ở chung với mẹ ruột l b Giang Thị T tại th n P, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. S có một người chị l Nguyễn Thị Thu D - sinh năm 1988, đã lập gia đ nh v chuyển đi sinh sống tại tỉnh Đắk N ng v một người anh l Nguyễn Quốc D - sinh năm 1990, đã lập gia đ nh v chuyển đi sinh sống tại Đồng Nai.
V o ng y 17/4/2020, do kh ng có tiền để mua ma tuý sử dụng, Nguyễn Tấn S mang chiếc xe m t nhãn hiệu Honda Air lade m u đen v ng, biển số 60 8-240.71 (c ng giấy tờ xe) của b Giang Thị T đến tiệm c m đồ Xuân T do anh Nguyễn Văn T - sinh năm 1985, trú tại xã Đ, huyện Đ l m chủ, c m với số tiền 5.000.000 đồng. S về đưa lại cho b T 3.000.000 đồng, còn 2.000.000 đồng mua ma tuý sử dụng hết. Đến ng y 24/4/2020, sau khi tiêu hết số tiền c m xe l 2.000.000 đồng, S đến tiệm sửa xe của anh Nguyễn Văn Ú - sinh năm 1987, trú tại xã Đ, huyện Đ để bán xe chiếc xe nêu trên. Sau khi thoả thuận, S v anh Ú đến tiệm c m đồ Xuân T lấy xe ra, S đã bán chiếc xe nêu trên cho anh Nguyễn Văn Ú với số tiền l 7.000.000 đồng, S trả tiền cho tiệm c m đồ l 5.040.000 đồng, giao xe v giấy tờ xe cho anh Ú. Số tiền bán xe S tiếp tục tiêu x i cá nhân v mua ma tuý để sử dụng hết.
Đến ng y 27/4/2020, sau khi tiêu hết tiền bán xe, kh ng có tiền mua ma tuý để sử dụng. Thời điểm n y có vợ chồng anh trai S l Nguyễn Quốc D v chị Nguyễn Thị ch N - sinh năm 1997, ở xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai đến ở nhờ nh b Giang Thị T để l m vườn. Ngh vợ chồng anh D, chị N có tiền nên S đã nảy sinh ý định trộm cắp tiền. Đến khoảng 22 giờ c ng ng y, Nguyễn Tấn S ngủ tại gác xếp, Nguyễn Quốc D ngủ tại phòng khách, b Giang Thị T v Nguyễn Thị ch N ngủ tại phòng ngủ của b T. Lợi dụng khi mọi người đã ngủ say, Nguyễn Tấn S l n lút đi v o phòng ngủ của b T, sử dụng đ n pin điện thoại soi v o trong g m giường, ph a đ u giường th thấy có một chiếc túi xách m u nâu, có quai xách k ch thước 50x30x40 cm; S k o túi xách ra ngo i, k o khoá ngăn h ng ra th thấy có 01 chiếc v da m u đen, k ch thước 08x16 cm; S k o khoá mở v th thấy bên trong có 01 Giấy ch ng minh nhân dân của chị Nguyễn Thị ch N v một xấp tiền. S lấy to n bộ xấp tiền, bỏ v o túi qu n, còn Giấy ch ng minh nhân dân th bỏ lại v , k o khoá v , bỏ v o túi xách, k o khoá túi xách v đẩy v o trong g m giường; S về gác xếp, mở sấp tiền lấy trộm được ra đếm có 15 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, t ng cộng l 3.000.000 đồng. S bỏ tiền v o túi qu n v đi ngủ.
Đến sáng ngày 28/4/2020, S dùng số tiền lấy trộm được mua ma tuý v tiêu x i cá nhân. Đến trưa c ng ng y, chị Ngọc kiểm tra túi xách thì phát hiện mất tiền nên nghi ngờ S l người lấy. Khi S về nh , đã thừa nhận m nh l người lấy số tiền trên của chị N. Chị N viết đơn tr nh báo C ng an. Đến ng y 29/4/2020 Cơ quan điều tra mời S lên làm việc và thu giữ số tiền còn lại l 360.000 đồng; 01 Giấy ch ng minh nhân dân số 250940309, mang tên Nguyễn Tấn S v 01 v da m u đen, loại có khóa k o, k ch thước 08x16cm.
Tại bản cáo trạng số: 22/QĐ-KSĐT ng y 14/7/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Đam R ng, để xét xử Nguyễn Tấn S về tội “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đam R ng đã truy tố, bị cáo không thắc mắc hay khiếu nại gì về nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát.
Người bị hại b Nguyễn Thị ch N kh ng yêu c u bị cáo trả lại t i sản.
Nhưng đề nghị Hội đồng x t xử giao trả lại 01 v da có khóa k o v khoản tiền 360.000đ thu trong người của bị cáo.
Trong ph n luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đam R ng tr nh b y lời luận tội, sau khi phân t ch đánh giá t nh chất, m c độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem x t các t nh tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn S phạm tội Trộm cắp tài sản. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn S từ 12 đến 15 tháng tù giam.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không có yêu c u g nên kh ng đặt ra để xem xét. Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ án ph h nh sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[ 1 ] Về yếu tố cấu thành tội phạm: Để có tiền tiêu xài cá nhân và mua ma túy sử dụng, bị cáo Nguyễn Tấn S l n lút đi v o phòng ngủ của b Thu, sử dụng đ n pin điện thoại soi v o trong g m giường, ph a đ u giường th thấy có một chiếc túi xách m u nâu, có quai xác; S k o túi xách ra ngo i, k o khoá ngăn h ng ra và lấy 01 chiếc v da m u đen, S k o khoá mở v lấy của chị Nguyễn Thị ch N v một xấp tiền. bỏ v o túi qu n, S về gác xếp, mở sấp tiền lấy trộm được ra đếm có 15 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, t ng cộng l 3.000.000 đồng. S tiếp tục bỏ tiền v o túi qu n v đi ngủ. Đến sáng ngày 28/4/2020, S d ng số tiền lấy trộm được mua ma tuý v tiêu x i cá nhân. Như vậy hành vi của bị cáo Nguyễn Tấn S đã cấu thành tội trộm cắp tài sản, do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Đam R ng truy tố bị cáo về tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 l hòan ho n to n có căn c , đúng quy định của pháp luật.
H nh vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bản thân bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. ị cáo nhận th c rõ h nh vi l n lút trộm cắp t i sản của người khác là hành vi, vi phạm pháp luật v sẽ bị xử lý. Nhưng chỉ v muốn có tiền tiêu x i cá nhân, mua ma túy để tiêm ch ch, m bị báo đã bất chấp h nh vi vi phạm phạm luật, lợi dụng cả nh đang ngủ l n lút lấy đi 3.000.000đ tiền của Chị N, anh D l anh trai v chị D của m nh. V vậy c n phải xử lý bị cáo với m c án tương x ng với tính chất, m c độ hành vi phạm tội của bị cáo. Để có tác dụng giao dục bị cáo trở thành người tốt, đồng thời để răn đê v phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Về nhân thân bị cáo: Xét nhân thân bị cáo tu i đời còn trẻ, mặc d đã bị xử lý hình sự về hành vi trộm cắp tài sản, nhưng bị cáo không chịu lấy đó l m b i học để tu dưỡng bản thân, mà còn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, đều này thể hiện rõ bị cáo chưa thực sự ăn năn hối cải. Tuy nhiên sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, nên được áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một ph n hình phạt cho bị cáo.
[ 3].Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa h m nay, người bị hại không có yêu c u g nên HĐXX kh ng đặt ra để xem xét.
. Về vật ch ng: Tang vật vụ án gồm 01 v da m u đen, loại có khóa kéo, kích thước (08x16)cm và số tiền 360.000 đồng thu được trên người bị cáo là số tiền còn lại đây l t i sản của bà N nên tuyên trả lại cho bà Nguyễn Thị Bích N. Đối với 01 giấy ch ng minh nhân dân số 250940309 là giấy tờ tùy thân của bị cáo, nên tuyên trả lại cho bị cáo.
Đối với việc S đem chiếc xe Mô tô hiệu Air Blade biểm kiểm soát 60B-240.71 c m cho cho tiệm c m đồ xuân Thiện, sau đó lấy bán cho anh Nguyễn văn Ú, đây là chiếc xe mô tô của bà T, Bà Tcó biết việc bị cáo c m xe v mang xe đi bán, nhưng b T không có ý kiến hay yêu c u g , hơn nữa bị cáo sỹ là con của bà T, nên cơ quan điều tra không xem xét khởi tố về hành vi làm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, do đó Hội đồng xét xử kh ng đạt ra để xem xét giải quyết.
[ 5]. Về án phí: Áp dụng Khoản 2, Điều 136 ộ luật Tố tụng h nh sự v Nghị quyết số 326/2016/U TVQH14 ng y 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý v sử dụng án ph , lệ ph Tòa án; uộc bị cáo Nguyễn Tấn S phải nộp án ph h nh sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên!
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn S phạm tội “Trộm cắp t i sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điều 38 Bộ luật hình sự 2015. Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn S 15 tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 29/4/2020 .
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tuyên trả cho bà Nguyễn Thị Bích N, ông Nguyễn Quốc D số tiền 360.000 đồng hiện đang tạm giữ tại tài khoản tạm giữ của Chi cục thi hành án huyện Đam R ng tại Kho bạc nh nước huyện Đam R ng; Tuyên trả cho Chị N 01 ví da loại có khóa k o, k ch thước (08x16) cm, và trả cho bị cáo 01 ch ng minh nhân dân số 250940309. Hiện đã được chuyển giao cho Chi cục thi hành án huyện Đ.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 ộ luật Tố tụng h nh sự v Nghị quyết số 326/2016/U TVQH14 ng y 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý b sử dụng án ph , lệ ph Tòa án; uộc bị cáo Nguyễn Tấn S phải nộp 200.000đ (Hai trăm ng n đồng) án ph h nh sự sơ thẩm.
áo cho bị cáo, người bị hại biết có quyền kháng cáo bản án n y trong hạn 15 ngày tròn kể từ ng y tuyên án sơ thẩm (30/7/2020) để yêu c u Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng x t xử phúc thẩm./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng ( 02 bản) - VKSND H. Đam R ng ( 01 bản). - CC THADS H. Đam R ng ( 01 bản). - Sở tư pháp LĐ ( 01 bản). - Cơ quan THAHS. - Bị cáo và các đương sự. - Lưu hồ sơ vụ án. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA Hoàng Rung K’ Nhơn |