vanban.org

Bản án 19/2020/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Hậu Giang Tuyên án 21/02/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 21/02/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo.

Tuyên bố bị cáo Hà Huỳnh Phú C phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Áp dụng: Điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 174 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2020/HS-PT
Ngày: 21 - 02 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG

- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hoàng Lâm

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Đình Tiến

Ông Hồ Văn Luông

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Thúy – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Ông Hứa Minh Thạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang, công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 109/2019/TLPT-HS ngày 31 tháng 12 năm 2019 đối với bị cáo Hà Huỳnh Phú C do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2019/HS-ST, ngày 22 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân thị xã 3, tỉnh Hậu Giang.

- Bị cáo có kháng cáo:

Hà Huỳnh Phú C; sinh năm: 1994 tại Đồng Tháp; nơi cư trú: Số 0.1, ấp 1, xã 2, huyện 3, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn C1 và bà Huỳnh Thị Kim E; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 18/7/2019 đến ngày 24/7/2019 chuyển tạm giam cho đến nay. Có mặt.

- Bị hại: Chị Nguyễn Hà Tú A; sinh năm: 1984; nơi cư trú: Khu vực 1, phường 2, thị xã 3, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt.

Ngoài ra trong vụ án còn có những người tham gia tố tụng khác không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên tại phiên tòa phúc thẩm không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 30/6/2019 chị Nguyễn Hà Tú A nhắn tin qua mạng xã hội Facebook cho bị cáo Hà Huỳnh Phú C và để lại số điện thoại di động nhằm liên hệ mua sản phẩm thuốc diệt chuột Fokeba 20CP do bị cáo C quảng cáo bán trên mạng xã hội Facebook. Tại thời điểm này, bị cáo C nảy sinh ý định lừa đảo nhằm chiếm đoạt tài sản nên sử dụng tên “Trọng Văn” kết bạn với chị Tú A trên mạng xã hội Zalo và liên lạc bằng số điện thoại 0589663261. Qua thỏa thuận chị Tú A chấp nhận mua 05 thùng thuốc diệt chuột Fokeba 20CP với giá 7.500.000đ. Ngày 01/7/2019, bị cáo tạo một mã vận đơn của ứng dụngViettel Post trên điện thoại di động và gửi cho chị Tú A để chị tin rằng bị cáo đã chuyển hàng nhưng thật chất bị cáo C không có hàng để gửi, đồng thời chị Tú A sử dụng số tài khoản 070065996187 của chồng chị Tú A là anh Trần Nguyễn Trường H đăng ký tại Ngân hàng S chuyển số tiền 7.500.000đ vào số tài khoản 0601000511752 của Nguyễn Văn Trọng, đăng ký tại Ngân hàng V – Chi nhánh Đồng Tháp do bị cáo C mượn của Nguyễn Văn T. Với hành vi tạo mã vận đơn của Viettel Post và gửi cho chị Tú A làm cho chị Tú A tin tưởng chuyển tiền, từ ngày 01/7/2019 đến ngày 04/7/2019 chị Tú A đã chuyển khoản nhiều lần cho bị cáo C, tổng cộng là 98.500.000đ, cụ thể:

+ Ngày 01/7/2019, chị Tú A chuyển 7.500.000đ mua 05 thùng thuốc diệt chuột Fokeba 20CP.

+ Ngày 02/7/2019, chị Tú A chuyển 15.000.000đ mua 10 thùng thuốc diệt chuột Fokeba 20CP.

+ Ngày 03/7/2019, chị Tú A chuyển tiền 02 lần để mua 15 thùng thuốc diệt chuột Fokeba 20CP và 02 thùng thuốc Nicozol với tổng số tiền là 35.500.000đ.

+ Ngày 04/7/2019, chị Tú A chuyển 40.500.000đ để mua 05 thùng thuốc Padan.

Đến ngày 06/7/2019 do chị Tú A yêu cầu giao hàng nên bị cáo C mua 01 thùng thuốc Nicozol qua mạng trị giá 6.500.000đ của anh Hứa Công T1 và yêu cầu anh Tèo chuyển thuốc cho chị Tú A. Ngày 07/7/2019 chị Tú A nhiều lần yêu cầu bị cáo C chuyển hàng hoặc trả lại số tiền 92.000.000đ thì bị cáo C khóa tài khoản Facebook, Zalo và bỏ sim điện thoại số 0589663261.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2019/HS-ST, ngày 22 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân thị xã 3, tỉnh Hậu Giang quyết định:

Tuyên bố bị cáo Hà Huỳnh Phú C phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Hà Huỳnh Phú C 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/7/2019.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về phần trách nhiệm dân sự; xử lý vật chứng; án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 25 tháng 11 năm 2019, bị cáo có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà phát biểu quan điểm: Xét thấy, sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo tiếp tục tác động gia đình khắc phục xong cho bị hại số tiền theo quyết định của bản án sơ thẩm và bị hại cũng có đơn bãi nại cho bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo. Giảm cho bị cáo từ 03 tháng đến 06 tháng tù, xử phạt bị cáo mức án từ 03 năm đến 03 năm 03 tháng tù. Sửa bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo có đơn kháng cáo đúng theo quy định tại các Điều 331, Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên chấp nhận xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội theo như nội dung cáo trạng và bản án sơ thẩm. Đối chiếu lời khai của bị cáo và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Khi bị hại đặt mua sản phẩm thuốc diệt chuột mà bị cáo đang quảng cáo trên mạng xã hội thì bị cáo đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của bị hại nên trong khoảng thời gian từ ngày 01/7/2019 đến ngày 04/7/2019 bị cáo đã tự tạo ra mã vận đơn và gửi cho bị hại để làm cho bị hại tin rằng bị cáo đã chuyển hàng để bị hại chuyển tiền cho bị cáo với tổng số tiền là 98.500.000đ. Tuy nhiên, trên thực tế bị cáo chỉ chuyển cho bị hại 01 thùng thuốc trị giá 6.500.000đ, số tiền còn lại bị cáo sử dụng vào mục đích tiêu xài cá nhân. Do đó, với hành vi và giá trị tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt, cấp sơ thẩm áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự để xét xử bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Khi quyết định hình phạt cấp sơ thẩm đã xem xét áp dụng cho bị cáo đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và xử phạt bị cáo mức án 36 tháng tù là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Đối với kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên”, đây là tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Đối chiếu với quy định tại khoản 5 Điều 3 của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thì bị cáo không đủ điều kiện được hưởng án treo. Tuy nhiên, sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã tác động gia đình tích cực khắc phục toàn bộ số tiền cho bị hại; mặc dù đây là nghĩa vụ bị cáo phải thực hiện nhưng qua đó cũng thể hiện thiện chí tích cực khắc phục thiệt hại do hành vi của bị cáo gây ra và bị hại cũng có đơn bãi nại cho bị cáo. Xét thấy, đây là tình tiết giảm nhẹ mới mà bị cáo được hưởng được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, giảm cho bị cáo một phần hình phạt nhằm thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo. Sửa bản án sơ thẩm.

Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo không phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo. Sửa bản án sơ thẩm.

Tuyên bố bị cáo Hà Huỳnh Phú C phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;

Áp dụng: Điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Hà Huỳnh Phú C 30 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/7/2019.

Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo không phải chịu.

Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ