- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hoàng Thị N - Phương Văn A"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hoàng Thị N đƣợc ly hôn anh Phƣơng Văn A.
- Căn cứ chính? Luật Phí và lệ phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH TỈNH HẢI DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2020/HNGĐ-ST Ngày: 31 - 7 - 2020 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Kim Giang;
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đới Văn Trinh
2. Ông Phạm Phúc Ân
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Giao - Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm, công khai vụ án thụ lý số: 117/2020/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 5 năm 2020 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 20/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 14/7/2020 giữa các đƣơng sự:
1. Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị N, sinh năm 1986;
Địa chỉ: Thôn V, xã H, Tp. C, tỉnh Hải Dƣơng.
2. Bị đơn: Anh Phƣơng Văn A, sinh năm 1977;
Địa chỉ: KDC số 1, phƣờng P, thành phố C, tỉnh Hải Dƣơng.
- Ngƣời làm chứng:
+ Bà Phạm Thị C, sinh năm 1956;
Địa chỉ: Khu dân cƣ số 1, phƣờng P, thành phố C, tỉnh Hải Dƣơng.
+ Anh Trần N, sinh năm 1984;
Địa chỉ: Khu dân cƣ N, phƣờng C, thành phố C, tỉnh Hải Dƣơng.
Chị N, anh A, bà C đều có mặt; anh N vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 08/5/2020, bản tự khai và ý kiến tại các buổi làm việc với Tòa án, chị Hoàng Thị N trình bày: Chị và anh Phƣơng Văn A đƣợc hai bên gia đình tổ chức lễ cƣới và về chung sống với nhau vào ngày 04/9/2003. Sau đó, anh chị chung sống tại nhà bố mẹ chồng ở khu dân cƣ số 1, phƣờng P, thành phố C, tỉnh Hải Dƣơng. Do thời gian đã lâu nên chị cũng không nhớ là vợ chồng có đi đăng ký kết hôn không. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Đến đầu năm 2016, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống cũng nhƣ trong làm ăn kinh tế, dẫn đến nhiều lần xảy ra sô sát, xúc phạm nhau. Chị đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ tại thôn V, xã H ở, nhƣng do nghĩ thƣơng con nên vợ chồng lại đoàn tụ với nhau. Tháng 4/2016, anh A đi xuất khẩu lao động ở Đài Loan. Thời gian đầu vợ chồng vẫn liên lạc bình thƣờng. Đến giữa năm 2017, vợ chồng tiếp tục xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh A hay uống rƣợu say và gọi điện về ghen tuông, chửi bới vô cớ, dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Cuối năm 2017, chị không nhẫn nhịn đƣợc nên đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở. Vợ chồng không quan tâm, liên lạc và chính thức sống ly thân từ đó đến nay. Do xác định vợ chồng không còn tình cảm và không thể về đoàn tụ với nhau đƣợc nên nhiều lần chị điện thoại liên lạc với anh A bảo anh A về nƣớc để giải quyết ly hôn, nhƣng anh A không về và bảo chị ở nhà muốn làm gì thì làm, muốn lấy ai thì lấy, anh A cũng không có ý kiến gì. Đầu năm 2020, chị muốn làm thủ tục ly hôn với anh A nên có đến Ủy ban nhân dân phƣờng P xin trích lục kết hôn. Sau khi kiểm tra sổ đăng ký kết hôn thấy không có tên của chị và anh A nên Ủy ban nhân dân phƣờng P đã xác nhận chị và anh A không có đăng ký kết hôn và nói rằng chị chƣa đăng ký kết hôn với anh A thì có thể đăng ký kết hôn với ngƣời khác. Sau đó, chị có quen biết và chung sống với anh Trần N ở thôn N, phƣờng C một thời gian. Do địa phƣơng yêu cầu nên chị và anh N đã chấm dứt việc chung sống này. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh A đã không còn, vợ chồng không thể về đoàn tụ đƣợc nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị đƣợc ly hôn anh Phƣơng Văn A. Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Phƣơng Văn B, sinh ngày 20/8/2004. Hiện tại con chung đang do anh A trực tiếp nuôi dƣỡng. Nếu ly hôn, chị đề nghị giao con chung cho anh A đƣợc tiếp tục trực tiếp nuôi dƣỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi. Chị không phải cấp dƣỡng nuôi con chung với anh A. Lý do chị đề nghị để anh A tiếp tục nuôi dƣỡng cháu B vì cháu có nguyện vọng muốn ở với bố; hiện tại công việc của chị cũng chƣa ổn định nên cháu B ở với bố sẽ tốt cho cháu hơn. Về quan hệ tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Tại bản tự khai ngày 05/6/2020 và ý kiến tại các buổi làm việc, bị đơn - anh Phƣơng Văn A trình bày xác định anh và chị Hoàng Thị N kết hôn ngày 24/12/2003, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn P (nay là phƣờng P), thành phố C. Vợ chồng phát sinh mâu thuẫn vào khoảng cuối năm 2015, đầu năm 2016. Đến giữa năm 2017, vợ chồng lại tiếp tục xảy ra mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân là do Chị N thƣờng hay bất đồng với mẹ chồng và con trai. Ngoài ra, anh còn nghe đƣợc thông tin Chị N ở nhà sống không chung thủy với anh. Anh khuyên bảo cũng không đƣợc. Cuối năm 2017, Chị N đã bỏ nhà về nhà mẹ đẻ ở. Anh có điện thoại níu kéo Chị N nhiều lần nhƣng Chị N không về. Sau đó, vợ chồng không liên lạc với nhau. Tháng 3/2020, anh bị trục xuất về nƣớc nhƣng chị N vẫn không về chung sống với anh. Anh đƣợc biết tháng 02/2020, chị N có tổ chức lễ cƣới và chung sống với một ngƣời đàn ông khác, sau đó không còn chung sống với ngƣời đó nữa. Nay chị N xin ly hôn quan điểm của anh là xác định vợ chồng không còn tình cảm và không thể về đoàn tụ đƣợc nhƣng anh nghĩ thƣơng con, không muốn con phải suy nghĩ nên anh không đồng ý ly hôn Chị N. Về con chung: Anh thống nhất theo quan điểm của chị N, đề nghị Tòa án giao con chung cho anh tiếp tục nuôi dƣỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi. Anh tự nguyện không yêu cầu Chị N phải cấp dƣỡng nuôi con chung với anh. Về quan hệ tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Tại bản tự khai ngày 05/6/2020, cháu Phƣơng Văn B trình bày có nguyện vọng xin đƣợc ở với bố.
- Bà Phạm Thị C – mẹ đẻ anh Phƣơng Văn A trình bày xác định: Năm 2016, vợ chồng chị N, anh A đã bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Vợ chồng thƣờng hay bất đồng, to tiếng và ít quan tâm đến nhau. Anh A đi bệnh viện chị N cũng không trông nom, chăm sóc. Chị N còn chở đồ đạc bỏ nhà đi. Khi anh A đi Đài Loan lao động, giữa hai vợ chồng lại tiếp tục xảy ra mâu thuẫn, chị N bỏ hẳn về nhà bố mẹ đẻ ở. Gia đình đã khuyên bảo, hòa giải nhiều nhƣng chị N không về và nói là muốn ly hôn với anh A vì không còn tình cảm. Tháng 3/2020, anh A về nƣớc, chị N và anh A cũng không về ở với nhau. Nay chị N xin ly hôn anh A, quan điểm của bà đó là việc riêng của vợ chồng, tự chị N và anh A quyết định. Về con chung: Quan điểm của bà C là nếu vợ chồng ly hôn thì nên giao cháu B cho anh A tiếp tục nuôi dƣỡng, vì cháu ở với ông bà và bố từ nhỏ đến nay, vẫn khỏe mạnh, phát triển bình thƣờng. Bà sẽ tạo điều kiện thuận lợi cả về chỗ ở cũng nhƣ các vấn đề khác để hỗ trợ anh A chăm sóc cháu B nếu tòa án giao cháu B cho anh A tiếp tục nuôi dƣỡng.
- Anh Trần N xác định: Khoảng tháng 1/2020, anh đƣợc bạn bè giới thiệu nên có quen biết chị N. Do chị N và anh A không còn chung sống với nhau, Ủy ban nhân dân phƣờng P cũng xác định chị N và anh A không đăng ký kết hôn nên anh và chị N đã tổ chức lễ cƣới và về chung sống với nhau ở khu dân cƣ N, phƣờng C, thành phố C. Sau đó, cán bộ khu dân cƣ N có đến yêu cầu nên anh và chị N đã chấm dứt việc sống chung này.
- Tại các biên bản xác minh với Ủy ban nhân dân phƣờng P, xác định: Ngày 05/02/2020, Ủy ban nhân dân phƣờng P do sơ xuất kiểm tra sổ đăng ký kết hôn tại địa phƣơng không kỹ nên có xác nhận chị N không đăng ký kết hôn. Sau khi kiểm tra lại sổ, địa phƣơng xác định lại là chị Hoàng Thị N và anh Phƣơng Văn A có đăng ký kết hôn với nhau ngày 24/12/2003 tại Ủy ban nhân dân phƣờng P. Về mâu thuẫn vợ chồng: Địa Phƣơng xác định nguyên nhân mâu thuẫn cụ thể giữa chị N và anh A thế nào địa phƣơng không nắm đƣợc, chỉ biết là thời điểm 2017, chị N có bỏ về xã H sống. Tháng 3/2020, anh A về nƣớc thì giữa vợ chồng cũng không chung sống cùng với nhau.
- Tại biên bản xác minh với Trƣởng khu dân cƣ N và Ủy ban nhân dân phƣờng C xác định: Thời điểm đầu năm 2020, chị Hoàng Thị N và anh Trần N ở khu dân cƣ N, phƣờng C có tổ chức lễ cƣới và chung sống với nhau nhƣng không đăng ký kết hôn. Sau khi biết đƣợc thông tin cán bộ khu dân cƣ N đã đến làm việc và yêu cầu chị N và anh N không đƣợc tiếp tục chung sống nhƣ vợ chồng khi chƣa giải quyết dứt điểm quan hệ với anh A. Sau đó, chị N và anh N đã chấp hành yêu cầu của địa phƣơng và không tiếp tục chung sống với nhau. Quan điểm địa phƣơng là thời điểm chị N và anh N chung sống có xuất trình một giấy xác nhận của Ủy ban nhân dân phƣờng P xác định chị N chƣa đăng ký kết hôn với anh A. Sau đó, chị N và anh N cũng không còn chung sống với nhau nữa. Do vậy, không đủ căn cứ để xử lý hành vi của chị N và anh N.
Tại phiên toà:
Chị N thừa nhận chị và anh A có đăng ký kết hôn ngày 24/12/2003 tại Ủy ban nhân dân thị trấn P nhƣ sổ đăng ký kết hôn phƣờng P cung cấp là đúng và giữ nguyên quan điểm xin ly hôn anh Phƣơng Văn A; anh A giữ nguyên quan điểm không nhất trí ly hôn. Về con chung: Chị N và anh A thỏa thuận thống nhất giao con chung Phƣơng Văn B cho anh Phƣơng Văn A tiếp tục trực tiếp nuôi dƣỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi. Chị Hoàng Thị N có nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con chung với anh Phƣơng Văn A số tiền là 10.000.000đ; Ngoài ra, Chị N phải cấp dƣỡng nuôi con chung với anh A mỗi tháng là 1.000.000đ, kể từ tháng 8/2020 đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử kể từ thời điểm thụ lý vụ án đến trƣớc thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật khi tham gia tố tụng. Bị đơn giai đoạn đầu không chấp hành việc triệu tập của Tòa án nhƣng sau đó đã cơ bản chấp hành đúng các quy định của pháp luật khi tham gia tố tụng. Về đƣờng lối giải quyết đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hoàng Thị N đƣợc ly hôn anh Phƣơng Văn A. Về con chung: Xử công nhận sự thỏa thuận của chị Hoàng Thị N và anh Phƣơng Văn A. Giao con chung Phƣơng Văn B, sinh ngày 20/8/2004 cho anh Phƣơng Văn A tiếp tục trực tiếp nuôi dƣỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi. Chị Hoàng Thị N có nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con chung với anh Phƣơng Văn A số tiền là 10.000.000đ. Ngoài ra, Chị N phải cấp dƣỡng nuôi con chung với anh A mỗi tháng là 1.000.000đ, kể từ tháng 8/2020 đến khi con chung đủ 18 tuổi. Về quan hệ tài sản chung: Không đặt ra việc xem xét, giải quyết. Về án phí: Chị N phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm ly hôn và 300.000đ án phí cấp dƣỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, nghe ý kiến của đƣơng sự và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Anh Phƣơng Văn A đăng ký hộ khẩu thƣờng trú tại khu dân cƣ số 1, phƣờng P, thành phố C, tỉnh Hải Dƣơng. Chị Hoàng Thị N khởi kiện xin ly hôn anh Phƣơng Văn A và giải quyết về việc nuôi con chung, do vậy, đây là vụ án về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn. Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh thụ lý giải quyết vụ án là đúng với thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị N và anh Phƣơng Văn A kết hôn với nhau ngày 24/12/2003 trên cơ sở tự nguyện, đảm bảo các điều kiện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phƣờng P. Do vậy, hôn nhân của Chị N, anh A là hợp pháp. Năm 2016, vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không tin tƣởng, tôn trọng, quan tâm đến nhau. Từ cuối năm 2017 đến nay vợ chồng đã sống ly thân và không quan tâm, liên lạc với nhau. Mặc dù, anh A có quan điểm không muốn ly hôn, nhƣng xác định vợ chồng không còn tình cảm và không thể về đoàn tụ đƣợc, việc anh không muốn ly hôn là vì không muốn con phải suy nghĩ; anh A cũng không có biện pháp và hành động cụ thể để thể hiện mong muốn vợ chồng về đoàn tụ. Hội đồng xét xử thấy rằng việc chị N, anh A không thƣơng yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện công việc gia đình, cũng không sống chung với nhau, đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt đƣợc. Do vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu của chị N xin ly hôn anh A.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Phƣơng Văn B, sinh ngày 20/8/2004. Hiện tại, con chung đang do anh A trực tiếp nuôi dƣỡng. Tại phiên tòa, Chị N và anh A thỏa thuận thống nhất: Giao con chung Phƣơng Văn B, sinh ngày 20/8/2004 cho anh Phƣơng Văn A tiếp tục trực tiếp nuôi dƣỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi. Chị N có nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con chung với anh Phƣơng Văn A số tiền là 10.000.000đ; ngoài ra, chị N phải cấp dƣỡng nuôi con chung với anh A mỗi tháng là 1.000.000đ, kể từ tháng 8/2020 đến khi con chung đủ 18 tuổi. Sự thỏa thuận của chị N và anh A là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội và phù hợp với nguyện vọng của cháu B, cũng nhƣ điều kiện hoàn cảnh của các bên. Do vậy, cần căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận sự thỏa thuận này của chị N và anh A.
Chị N không trực tiếp nuôi con, có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai đƣợc cản trở chị N thực hiện quyền này.
Về quan hệ tài sản: Chị N, anh A không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra việc xem xét, giải quyết.
Đối với việc chị N và anh Trần N tổ chức lễ cƣới và chung sống với nhau trong thời gian chị N và anh A vẫn đang tồn tại quan hệ vợ chồng. Quá trình xác minh xác định nguyên nhân xuất phát từ việc nhầm lẫn trong việc xác nhận tình trạng kết hôn của Ủy ban nhân dân phƣờng P, không có lỗi của chị N và anh N. chị N và anh N cũng đã chấm dứt việc chung sống này. Ủy ban nhân dân phƣờng C xác định không có đủ căn cứ nên không xử lý hành chính đối với hành vi của chị N, anh A là phù hợp nên không đặt ra việc xem xét kiến nghị xử lý đối với hành vi này của chị N và anh N.
Về án phí: Chị N là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn và án phí dân sự sơ thẩm cấp dƣỡng nuôi con theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hoàng Thị N đƣợc ly hôn anh Phƣơng Văn A.
2. Về con chung: Xử công nhận sự thỏa thuận của chị Hoàng Thị N và anh Phƣơng Văn A:
Giao con chung Phƣơng Văn B, sinh ngày 20/8/2004 cho anh Phƣơng Văn A tiếp tục trực tiếp nuôi dƣỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi. Chị Hoàng Thị N có nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con chung với anh Phƣơng Văn A số tiền là 10.000.000đ. Ngoài ra, Chị N phải cấp dƣỡng nuôi con chung với anh A mỗi tháng là 1.000.000đ, kể từ tháng 8/2020 đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Chị N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai đƣợc cản trở Chị N thực hiện quyền này.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ngƣời đƣợc thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho ngƣời đƣợc thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trƣờng hợp pháp luật có quy định khác.
3. Về án phí: Chị Hoàng Thị N phải nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm ly hôn và 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm cấp dƣỡng nuôi con, đƣợc đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ mà Chị N đã nộp theo biên lai thu số: AA/2017/0006443 ngày 18/5/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng. Chị N còn phải nộp 300.000đ.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trƣờng hợp quyết định đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án, ngƣời phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Chí Linh; - Chi cục THADS thành phố Chí Linh; - UBND phƣờng P (Để ghi sổ hộ tịch); - Các đƣơng sự; - Lƣu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Kim Giang |