- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án thụ lý số: 497/2019/TLST- HNGĐ, ngày 10 tháng 12 năm 2019 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung”"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Vũ Xuân H về việc ly hôn.
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH QUẢNG NINH Bản án số: 19/2020/HNGĐ-ST Ngày 04-6-2020 “V/v Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU – TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Phạm Ngọc Bình Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông: Bùi Quốc Tuấn.
2. Ông: Trần Hữu Trung.
- Thư ký phiên tòa: bà Vũ Thị Thúy Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Nhàn - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 6 năm 2020 tại Phòng xử án, Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 497/2019/TLST- HNGĐ, ngày 10 tháng 12 năm 2019 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2020/QĐST-HNGĐ, ngày 18/5/2020 của Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: anh Vũ Xuân H, sinh năm 1982 Trú tại: thôn T, xã B, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Có đơn đề nghị xử vắng mặt.
2. Bị đơn: chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1989. Trú tại: thôn T, xã B, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Vũ Xuân H trình bày:
Anh và chị Nguyễn Thị L chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn năm 2011 tại UBND xã B, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Sau thời gian chung sống với nhau hạnh phúc khoảng 02 năm thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp nhau, luôn cãi vã và không thể tiếp tục chung sống cùng nhau. Sau khi cãi nhau, năm 2013, chị L chuyển về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Kể từ thời điểm đó, anh chị ly thân. Nay thấy tình cảm vợ chồng giữa hai người không thể hàn gắn và chung sống với nhau được nên anh làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho anh chị được ly hôn.
Về con chung: Quá trình chung sống anh chị có 01 con chung là Vũ Hiểu B, sinh ngày 15/11/2011. Anh đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và không đề nghị chị L cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: không có.
Về công nợ chung: không có.
Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án đối với bị đơn. Ngày 29/02/2020, Tòa án nhận được bản tự khai của người mang tên Nguyễn Thị L do anh H gửi đến qua đường bưu điện với nội dung đồng ý ly hôn và chấp nhận các yêu cầu trong đơn ly hôn của anh H, đồng thời đề nghị xét xử vắng mặt. Theo kết quả xác minh tại gia đình và địa phương, chị L đăng ký đăng ký nhân khẩu thường trú tại thôn T, xã, thị xã Đ. Chị L hiện làm ăn ở địa phương khác nhưng thường xuyên đi về nhà. Chị Nguyễn Thị L biết được việc tòa án thụ lý vụ án nhưng không đến Tòa án để làm việc và tham dự phiên tòa.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:
- Việc tuân thủ quy định pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa đã tuân theo đúng quy định của Bộ Luật Tố tụng dân sự.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Vũ Xuân H về việc ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa:
Về quan hệ tranh chấp: anh Vũ Xuân H có đơn khởi kiện đề nghị được ly hôn với chị Nguyễn Thị L và được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Đây là vụ án “Tranh chấp về hôn nhân gia đình” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a, khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành thụ lý, tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải theo đúng trình tự và thủ tục của Bộ luật tố tụng dân sự quy định. Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa theo đúng trình tự tố tụng tại gia đình. Chị Nguyễn Thị L đã được mẹ đẻ của chị là bà Lê Thị X giao lại tất cả những văn bản tố tụng tòa án đã tống đạt. Việc chị L không đến Tòa án làm việc theo giấy triệu tập là tự mình từ bỏ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật; Anh Vũ Xuân H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Về tình cảm: anh Vũ Xuân H và chị Nguyễn Thị L chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn năm 2011 tại UBND xã B, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Sau thời gian chung sống với nhau hạnh phúc khoảng 02 năm thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp nhau, luôn cãi vã và không thể tiếp tục chung sống cùng nhau. Sau khi cãi nhau, năm 2013, chị L chuyển về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Kể từ thời điểm đó, anh chị ly thân. Mặc dù, chị Nguyễn Thị L không thể hiện quan điểm của mình tại Tòa án. Tuy nhiên, qua xác nhận tại gia đình và địa phương đã thể hiện thực tế cuộc hôn nhân của anh chị đã mâu thuẫn trầm trọng mà không thể hàn gắn được. Như vậy, mục đích chung sống giữa anh Hội và chị L không đạt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, yêu cầu của anh Hội đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Thị Ln là có căn cứ pháp luật, cần chấp nhận.
Về con chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, anh H đề nghị được trực tiếp chăm sóc một con chung đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi), đồng thời không yêu cầu chị L phải cấp dưỡng nuôi con chung. Hội đồng xét xử xét thấy nguyện vọng này của anh Hội là hợp lý, phù hợp với nguyện vọng của cháu Vũ Hiểu B, và có căn cứ quy định tại điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận.
Về tài sản chung: không có.
Về nợ chung: không có.
Về quyền và nghĩa vụ của các đương sự đối với việc nuôi con chung sau ly hôn: Anh Vũ Xuân H và chị Nguyễn Thị L thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo các quy định tại Điều 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về án phí: anh Vũ Xuân H phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 57; khoản 1, 2 Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Vũ Xuân H về việc ly hôn.
1. Về tình cảm: anh Vũ Xuân H được ly hôn với chị Nguyễn Thị L.
2. Về con chung:
- Giao cho anh Vũ Xuân H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Vũ Hiểu B, sinh ngày 15/11/2011 đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi) kể từ tháng 6 năm 2020.
- Chị Nguyễn Thị L không phải cấp dưỡng nuôi con chung, đồng thời có quyền thăm nom, chăm sóc con chung theo quy định của pháp luật, không ai được ngăn cản.
3. Về án phí: anh Vũ Xuân H phải chịu 300.000 đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
(Anh Vũ Xuân H đã nộp theo biên lai thu tiền số 0004302, ngày 05/12/2019 của chi cục thi hành án dân sự thị xã Đông Triều).
Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ninh - VKSND cùng cấp; - Chi cục THADS cùng cấp; - Các đương sự; - UBND xã nơi đăng ký kết hôn; - Lưu hồ sơ./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM. Thẩm phán chủ tọa phiên tòa Phạm Ngọc Bình |