vanban.org

Bản án 19/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Hải Dương Tuyên án 17/04/2020 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Quang M được ly hôn chị Nguyễn Thị Ng.

Về con chung: Giao con Nguyễn Thị Ngọc M1, sinh ngày 10/6/2011 cho anh Nguyễn Quang M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu M1 tròn 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của anh M không yêu cầu chị Ng phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Chị Nguyễn Thị Ng có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án HNGĐ ST Nguyễn Quang Mạnh - Nguyễn Thị Ngọc"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Quang M được ly hôn chị Nguyễn Thị Ng.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

_____________
Bản án số: 19/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 17/4/2020
“V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Trường.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bích Liên;

Bà Dương Thị Kim Hồng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Bà Phạm Thị Quyên - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 17 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 38/2020/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2020, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 06/3/2020; Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2020/QĐST-HNGĐ ngày 23/3/2020; Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa, giữa:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Quang M, sinh năm 1983.

ĐKHK và nơi cư trú: Số nhà 12, ngõ số 4, phố Th, phường S, thành phố L, tỉnh Hải Dương.

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1989.

Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Số nhà 12, ngõ số 4, phố Th, phường S, thành phố L, tỉnh Hải Dương.

Hiện đang lao động tại: Đài Loan.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn xin ly hôn, các bản khai - Nguyên đơn anh Nguyễn Quang M trình bày: Anh và chị Nguyễn Thị Ng kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường S, thành phố L, tỉnh Hải Dương vào ngày 16/12/2009. Quá trình chung sống hạnh phúc được khoảng ba năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính cách khác biệt, quan điểm sống bất đồng, vợ chồng không hòa hợp được với nhau. Năm 2013, chị Ng đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, từ khi sang Đài Loan chị Ng không liên lạc với anh, vợ chồng sống ly thân đã 7 năm, không ai quan tâm đến ai. Khi hết hạn hợp đồng chị Ng không có ý định về nước mà bỏ ra ngoài sống bất hợp pháp. Do vậy, tình cảm vợ chồng phai nhạt dần và không còn. Nay, anh xét thấy mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không có, đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Ng.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Thị Ngọc M1, sinh ngày 10/6/2011. Anh đề nghị được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung cho đến khi con thành niên và tự nguyện không yêu cầu chị Ng phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản, nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, anh M không cung cấp được địa chỉ của chị Ng tại Đài Loan. Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương đã về xác minh tại gia đình chị Ng, gia đình xác nhận chị Ng vẫn thỉnh thoảng liên lạc về nhà. Tòa án yêu cầu gia đình cung cấp địa chị của chị Ng ở Đài Loan và yêu cầu chị Ng gửi văn bản trình bày ý kiến, quan điểm của mình đối với yêu cầu xin ly hôn của anh M, nhưng gia đình không cung cấp được địa chỉ của chị Ng, chị Ng cũng không có văn bản gửi về. Tòa án đã tiến hành giao các văn bản tố tụng cho ông Nguyễn Văn Qu là bố đẻ chị Ng, đồng thời tiến hành niêm yết các băn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Sau khi nhận các văn bản tố tụng của Tòa án, ông Qu xác định đã thông tin cho chị Ng biết, chị Ng có quan điểm nhất trí ly hôn, nhất trí để anh M nuôi con Nguyễn Thị Ngọc M và chị không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung, đồng thời chị Ng đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc thu thập tài liệu và thời gian chuẩn bị xét xử chưa thực hiện đúng theo Điều 476 Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa để yêu cầu nguyên đơn tiếp tục cung cấp địa chỉ của bị đơn, đến hết thời hạn xét xử mới giải quyết vụ án. Do vậy, Viện kiểm sát không phát biểu đường lối giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và xem xét ý kiến của các đương sự, quan điểm đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, anh M không cung cấp được địa chỉ của chị Ng tại Đài Loan. Theo hướng dẫn tại công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao, Tòa án đã hai lần yêu cầu gia đình chị Ng cung cấp địa chỉ, cũng như thực hiện yêu cầu của Tòa án thông báo cho chị Ng biết Tòa án đang giải quyết việc ly hôn giữa chị và anh M nhưng gia đình không cung cấp được địa chỉ. Do vậy, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật, đồng thời tiến hành xét xử theo thủ tục cố tình giấu địa chỉ.

Anh M có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, chị Ng vắng mặt lần thứ hai. Do vậy căn cứ khoản 1 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh M, chị Ng.

. Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Quang M và chị Nguyễn Thị Ng kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường S, thành phố L, tỉnh Hải Dương vào ngày 16/12/2009, là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc được khoảng ba năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau và đã sống ly thân từ năm 2013 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Hơn nữa, sau khi hết hạn hợp đồng chị Ng không có ý định về nước. Anh M xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Ng. Về phía chị Ng cũng đã được gia đình thông báo về việc Tòa án đang giải quyết ly hôn theo đơn xin ly hôn của anh M. Thông qua gia đình chị Ng có quan điểm nhất trí ly hôn. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh M.

- Về con chung: Anh Nguyễn Quang M và chị Nguyễn Thị Ng có 01 con chung là Nguyễn Thị Ngọc M1, sinh ngày 10/6/2011, hiện cháu đang ở với anh M. Xét thấy hiện tại chị Ng không có mặt tại Việt Nam nên không có điều kiện để nuôi dưỡng cháu Mai. Hơn nữa, cháu M1 đã 9 tuổi, cháu có quan điểm, nguyện vọng được ở với bố. Do vậy cần tiếp tục giao cháu Mai cho anh M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên. Chấp nhận sự tự nguyện của anh M không yêu cầu chị Ng phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Anh M không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí: Anh Nguyễn Quang M phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì những lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Quang M được ly hôn chị Nguyễn Thị Ng.

2. Về con chung: Giao con Nguyễn Thị Ngọc M1, sinh ngày 10/6/2011 cho anh Nguyễn Quang M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu M1 tròn 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của anh M không yêu cầu chị Ng phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Chị Nguyễn Thị Ng có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.

3. Về án phí: Anh Nguyễn Quang M phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, được đối trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số AA/2018/0000795 ngày 12 tháng 02 năm 2020 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Anh Nguyễn Quang M đã nộp đủ án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Quang M được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Chị Nguyễn Thị Ng được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ