vanban.org

Bản án 19/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho anh Nguyễn Hoàng T được ly hôn với chị Lê Hồng S.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Trường Th – sinh ngày 27/10/2004 cho anh T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Đối với cháu Nguyễn Hồng C - sinh ngày 16/01/2002 đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử miễn xét. Chị Lê Hồng S có quyền tới lui thăm nom con chung, không ai có quyền cản trở chị t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Hoàng T- Lê Hồng S"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho anh Nguyễn Hoàng T được ly hôn với chị Lê Hồng S.
  • Căn cứ chính? Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHẬN DÂN
HUYỆN GÒ QUAO
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 29-5-2020
V/v: “Tranh chấp về ly hôn và yêu cầu nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Tôn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lương Thị Hồng Hạnh;

2. Ông Võ Văn Liềm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nghĩa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao tham gia phiên tòa: Ông Danh Vũ Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang, đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 72/2020/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 24/4/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 19/2020/QĐST-HNGĐ ngày13/5/2020, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Hoàng T - sinh năm 1978 (có mặt).

Địa chỉ: 126, khu vực Th1, phường Ph, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.

2. Bị đơn: Chị Lê Hồng S - sinh năm 1984 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp 5, xã V, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 03/3/2020 và tại phiên tòa nguyên đơn anh Nguyễn Hoàng T trình bày: Tôi và vợ tôi là Lê Hồng S sống với nhau từ năm 2001, chúng tôi được cha mẹ tổ chức đám cưới theo phong tục của địa phương, hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn trễ hạn tại Ủy ban nhân dân phường Ph, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ vào ngày 27/4/2005.

Sau khi kết hôn vợ chồng tôi sống hạnh phúc được khoảng 05 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình hai vợ chồng không hợp nhau, không có tiếng nói chung và vợ tôi cũng đã bỏ nhà đi nhiều năm nay. Chúng tôi đã ly thân với nhau từ năm 2006 đến nay. Nay xét thấy cuộc sống hôn nhân không còn hàn gắn được nữa, vợ chồng không còn tình cảm với nhau nên tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với vợ tôi là Lê Hồng S.

Về con chung: Quá trình chung sống chúng tôi có 02 người con chung tên Nguyễn Hồng C - sinh ngày 16/01/2002 và Nguyễn Trường Th – sinh ngày 27/10/2004, hiện nay các con đang sống cùng với tôi. Tôi yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Trường Th – sinh ngày 27/10/2004 và tôi không yêu cầu vợ tôi cấp dưỡng nuôi con. Đối với cháu Nguyễn Hồng C - sinh ngày 16/01/2002 đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Tôi xác định vợ chồng không có tài sản chung và cũng không thiếu nợ ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với chị Lê Hồng S trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ chị S nhiều lần nhưng chị vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang có ý kiến:

Về tố tụng: Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, người tham gia tố tụng; việc thu thập tài liệu, chứng cứ, cấp tống đạt cho người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát đúng quy định. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương sự chấp hành đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn đã được thông báo tống đạt đúng quy định nhưng vắng mặt tại phiên tòa là không tuân thủ quy định của pháp luật.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của đương sự cũng như tại phiên tòa hôm nay, đối chiếu với các quy định của pháp luật, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho anh Nguyễn Hoàng T được ly hôn với chị Lê Hồng S. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Trường Th – sinh ngày 27/10/2004 cho anh T được tiếp tục chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng và chị S không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Miễn xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Tranh chấp giữa anh Nguyễn Hoàng T và chị Lê Hồng S là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Bị đơn chị Lê Hồng S được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật tại nơi chị có hộ khẩu thường trú và mẹ ruột của chị là bà Võ Thị Nh cũng là người sống chung nhà, có cùng hộ khẩu thường trú với chị S đã nhận thay chị S các văn bản tố tụng của Tòa án và cam kết giao lại cho chị S. Do đó, có đủ căn cứ xác định chị S đã biết việc anh T có đơn yêu cầu giải quyết việc ly hôn và yêu cầu nuôi con chung giữa chị và anh T nhưng chị S không có mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị S là phù hợp.

Về hôn nhân: Anh Nguyễn Hoàng T và chị Lê Hồng S kết hôn với nhau vào năm 2001, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn trễ hạn tại Ủy ban nhân dân phường Ph, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ vào ngày 27/4/2005 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 35, quyển số 01/2005. Như vậy, Hội đồng xét xử xác định hôn nhân của anh T và chị S là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Xét về quan hệ hôn nhân cho thấy: Dù hôn nhân của anh T, chị S là hôn nhân tự nguyện nhưng trước khi kết hôn anh chị không có tìm hiểu nhau trước nên khi xác lập cuộc sống chung vợ chồng thì lại bộc lộ ra những cá tính không phù hợp. Anh T cho rằng tính tình hai vợ chồng không hợp nhau, không có tiếng nói chung và chị S cũng đã bỏ nhà đi nhiều năm. Ngày 06/04/2020 và ngày 22/4/2020 Tòa án đã tổ chức hòa giải để động viên, giải thích giúp vợ chồng anh chị đoàn tụ nhưng chị S không có mặt tại Tòa án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến của chị S. Xét thấy, vợ chồng anh chị đã sống ly thân với nhau từ năm 2006 đến nay nhưng không thể hàn gắn được. Tại phiên tòa, anh T cũng tỏ rõ thái độ không còn yêu thương chị S nên anh T cương quyết xin ly hôn với chị S. Từ đó, cho thấy mâu thuẫn của anh chị đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh T.

Đối với chị Lê Hồng S, trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã trực tiếp đến nhà chị S tống đạt các văn bản tố tụng đúng theo qui định của pháp luật nhưng chị không có mặt tại địa phương tại thời điểm tống đạt nhưng mẹ ruột của chị là bà Võ Thị Nh cũng là người sống chung nhà, có cùng hộ khẩu thường trú với chị S đã nhận thay chị S các văn bản tố tụng của Tòa án và cam kết giao lại cho chị S. Do vậy, có đủ căn cứ xác định chị S đã biết việc anh T có đơn yêu cầu giải quyết việc ly hôn và yêu cầu nuôi con chung giữa chị và anh T nhưng chị S không có mặt tại Tòa án để làm các văn bản gửi cho Tòa án nên không có căn cứ để xem xét ý kiến của chị S. Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất xét xử vắng mặt chị theo qui định của pháp luật.

Về con chung: Anh T xác định anh và chị S có 02 người chung tên Nguyễn Hồng C - sinh ngày 16/01/2002 và Nguyễn Trường Th – sinh ngày 27/10/2004. Tại phiên tòa xét thấy, cháu Th đang sống cùng nhà với anh T cũng như cháu Th cũng có nguyện vọng muốn sống tiếp tục với anh T. Mặc khác, từ khi ly thân đến nay anh T một mình nuôi con và cháu Th phát triển bình thường như những đứa trẻ khác nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Th của anh T. Do đó, giao cháu Th cho anh T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là đúng theo quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Đối với cháu Nguyễn Hồng C - sinh ngày 16/01/2002 nay đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Chị Lê Hồng S có quyền tới lui thăm nom con chung, không ai có quyền cản trở chị thực hiện quyền này. Khi cần thiết, anh chị có quyền làm đơn xin thay đổi quyền nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh T không yêu cầu chị S cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh T xác định anh và chị S không có tài sản chung và không thiếu nợ ai nên anh không có yêu cầu. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

Tại phiên tòa sau khi nghe lời trình bày của nguyên đơn và đại diện Viện kiểm sát có quan điểm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm là: 300.000 đồng anh Nguyễn Hoàng T phải nộp do anh có yêu cầu xin ly hôn nhưng anh được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà anh đã nộp trước đây là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0008811, ngày 03/3/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang. Như vậy, anh T đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 131 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho anh Nguyễn Hoàng T được ly hôn với chị Lê Hồng S.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Trường Th – sinh ngày 27/10/2004 cho anh T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Đối với cháu Nguyễn Hồng C - sinh ngày 16/01/2002 đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử miễn xét.

Chị Lê Hồng S có quyền tới lui thăm nom con chung, không ai có quyền cản trở chị thực hiện quyền này. Khi cần thiết, anh chị có quyền làm đơn xin thay đổi quyền nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Hội đồng xét xử miễn xét.

4. Về tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử miễn xét.

5. Về án phí hôn nhân sơ thẩm là: 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) anh Nguyễn Hoàng T phải nộp do anh có yêu cầu xin ly hôn nhưng anh được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà anh đã nộp trước đây là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0008811, ngày 03/3/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang. Như vậy, anh T đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án là ngày 29/5/2020. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ