- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "BẢn án ly hôn Cao Thị Kim O - Nguyễn Thế K"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Cao Thị Kim O đối với anh Nguyễn Thế K.
- Căn cứ chính? Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 107 luật hôn nhân và gia đình buộc anh Nguyễn Thế K phải
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HOÁ TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2020/DSST - HNGĐ. Ngày 13 – 8 - 2020 V/v “Xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HOÁ, TỈNH QUẢNG BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Thanh Dần.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đinh Xuân Phầu.
2. Ông Trần Xuân Thuận.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Linh Chi – Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình: Bà Nguyễn Thị Hoa Huệ – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 26/2020/TLST - HNGĐ ngày 27/4/2020 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2020/QĐST- DS ngày 30/6/2020. Quyết định hoãn phiên tòa số: 21/2020/QĐHPT – DSST ngày 13/7/2020 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Cao Thị Kim O, sinh năm: 1993.
Nơi ĐKHKTT: Thôn L, xã T, huyện H, tỉnh Quảng Bình.
Hiện tạm trú tại: Thôn 4L, xã T, huyện H, tỉnh Quảng Bình (có mặt).
Bị đơn: Anh Nguyễn Thế K, sinh năm: 1987.
Địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện H, tỉnh Quảng Bình (vắng mặt lần thứ 2).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 11/3/2020 và bản tự khai ngày 02/6/2020 chị Cao Thị Kim O trình bày: Tôi ( Cao Thị Kim O) và anh Nguyễn Thế K tìm hiểu để đi đến kết hôn với nhau do hai bên hoàn toàn tự nguyện không có ai ép buộc, đã đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện H, tỉnh Quảng Bình vào ngày 05/12/2014. Sau khi kết hôn vợ chồng về sống chung cùng bố mẹ anh K tại thôn 3 L, xã T, huyện H, tỉnh Quảng Bình. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2017 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, anh K không quan tâm đến vợ con dẫn đến hai bên thường xuyên cãi vã lẫn nhau, mặc dù đã được hai bên gia đình góp ý khuyên răn nhiều lần nhưng tình cảm vợ chồng không được cải thiện mà ngày càng mâu thuẫn trầm trọng. Tháng 9 năm 2018 chị O bồng con về nhà ngoại tại thôn 4L, xã T, huyện H ở, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Từ khi vợ chồng ly thân hai bên bỏ mặc không quan tâm đến nhau nữa. Hiện tình cảm vợ chồng thực sự không còn nữa, mâu thuẫn không thể khắc phục được nên chị Cao Thị Kim O làm đơn xin ly hôn anh Nguyễn Thế K.
Về con chung của vợ chồng: Chị Cao Thị Kim O khai vợ chồng có một đứa con chung tên là Nguyễn Cao Băng B, sinh ngày: 20/10/2015 hiện đang sống cùng chị Cao Thị Kim O. Sau khi ly hôn chị O có nguyện vọng xin được nuôi con và không yêu cầu anh Nguyễn Thế K phải cấp dưỡng tiền nuôi con hàng tháng.
Về tài sản chung và công nợ chung của vợ chồng: Chị Cao Thị Kim O khai vợ chồng chưa có tài sản chung và không vay mượn gì của ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Án phí: Chị Cao Thị Kim O đã nộp số tiền 300.000đ nay xin chịu toàn bộ.
Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa đã thụ lý vụ án theo yêu cầu của chị Cao Thị Kim O và triệu tập hai bên đương sự đến tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình để giải quyết nhiều lần, nhưng việc triệu tập và thông báo tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải chỉ có mặt chị Cao Thị Kim O còn anh Nguyễn Thế K vắng mặt không rõ lý do nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Chị Cao Thị Kim O xin ly hôn anh Nguyễn Thế K cả hai bên đều có hộ khẩu thường trú tại thôn L, xã T, huyện H, tỉnh Quảng Bình. Quá trình giải quyết chị Cao Thị Kim O có mặt còn anh Nguyễn Thế K vắng mặt nhiều lần không rõ lý do. Tòa án đã phối hợp với UBND xã T xác minh tại địa phương thì anh Nguyễn Thế K và chị Cao Thị Kim O đều có hộ khẩu thường trú tại thôn L, xã T hiện đang do công an xã T quản lý, hiện nay anh Nguyễn Thế K không có mặt tại địa phương, anh K hiện đang đi đâu làm gì thì không rõ. Tòa án đã tiến hành xác minh tại văn phòng UBND xã T thì văn phòng UBND xã T đã nhận được 02 giấy triệu tập của Tòa án gửi đến để tống đạt trực tiếp cho anh Nguyễn Thế K (trong đó 01 giấy triệu tập và 01 thông báo phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải) thông báo cho anh K đến tại trụ sở Tòa án để giải quyết việc ly hôn theo đơn khởi kiện của chị Cao Thị Kim O. Văn phòng UBND xã T đã trực tiếp giao đầy đủ các loại giấy triệu tập nói trên cho gia đình anh Nguyễn Thế K. Ngày 30/6/2020 Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa đã phối hợp cùng cán bộ xã T trực tiếp đến tại nhà bà Mai Thị H trú tại thôn L, xã T là mẹ của anh Nguyễn Thế K thì bà Mai Thị H khai: Vừa qua bà có nhận được 02 giấy triệu tập của Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa đối với anh Nguyễn Thế K là con trai bà H. Hiện anh K đang đi làm ăn tự do tại các tỉnh phía Nam không có địa chỉ cụ thể để cung cấp cho Tòa án, khi bà Mai Thị H nhận được các loại giấy của Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa thì bà H đã điện thoại báo cho anh K biết việc chị O làm đơn xin ly hôn và báo cho anh K về tại Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa để giải quyết nhưng anh K trả lời không về được. Về con chung và tài sản thì vợ chồng chị Cao Thị Kim O và anh Nguyễn Thế K có một đứa con chung hiện nay đang ở cùng chị O, còn tài sản và công nợ không có. Anh Nguyễn Thế K vắng mặt nên Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa không tiến hành hòa giải được. Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình đưa vụ án ra xét xử lần thứ hai nhưng anh Nguyễn Thế K vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để xét xử vắng mặt anh Nguyễn Thế K.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Cao Thị Kim O và anh Nguyễn Thế K tìm hiểu để đi đến kết hôn là do hai bên hoàn toàn tự nguyện, không có ai ép buộc đã đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, nên đây là cuộc hôn nhân hợp pháp, nhưng do trong quá trình chung sống hai bên bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã lẫn nhau mặc dù đã được hai bên gia đình góp ý nhiều lần nhưng vợ chồng vẫn không được cải thiện mà ngày càng mâu thuẫn thêm từ đó chị O bồng con về nhà bố mẹ để ở, vợ chồng sống ly thân từ tháng 9 năm 2019 cho đến nay hai bên bỏ mặc không còn quan tâm đến nhau nữa. Chị O thấy mâu thuẫn vợ chồng không thể khắc phục được, nếu kéo dài thì ảnh hưởng đến con cái và công việc của mỗi bên. Hội đồng xét xử xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị Cao Thị Kim O và anh Nguyễn Thế K thực sự không còn nữa, mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Cao Thị Kim O đối với anh Nguyễn Thế K là có căn cứ phù hợp với các quy định của pháp luật. Vì vậy cần áp dụng khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình để xét xử chị Cao Thị Kim O được ly hôn anh Nguyễn Thế K.
Về con chung của vợ chồng: Chị Cao Thị Kim O khai vợ chồng có một đứa con chung tên là Nguyễn Cao Băng B, sinh ngày 20/10/2015 từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay con Nguyễn Cao Băng B sống cùng chị O do con đang còn nhỏ nên nguyện vọng của chị O sau khi ly hôn xin được tiếp tục chăm sóc và nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử thấy nguyện vọng của chị O là hoàn toàn chính đáng vì hiện nay con đang còn nhỏ, mặt khác anh K không có mặt tại địa phương nên Hội đồng xét xử chấp nhận nguyện vọng của chị O là có căn cứ hợp lý. Vì vậy cần áp dụng các Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình giao con Nguyễn Cao Băng Băng, sinh ngày: 20/10/2015 cho chị Cao Thị Kim O chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến khi con khôn lớn, trưởng thành.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng chị Cao Thị Kim O không yêu cầu anh Nguyễn Thế K phải đóng góp tiền nuôi con hàng tháng. Hội đồng xét xử thấy để bảo đảm quyền lợi cho con và nghĩa vụ của cha mẹ sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con phải có trách nhiệm và nghĩa vụ nuôi dưỡng nên cần áp dụng các Điều 107, Điều 110 và Điều 116 luật hôn nhân và gia đình để buộc anh Nguyễn Thế K phải có trách nhiệm và nghĩa vụ đóng góp tiền nuôi con hàng tháng mỗi tháng 1.000.000đ (Một triệu đồng) là phù hợp. Thời gian tính từ tháng 9/2020 cho đến lúc con đủ 18 tuổi. Chị Cao Thị Kim O không được ngăn cản việc đi lại chăm sóc con chung đối với anh Nguyễn Thế K, trường hợp cần thiết vì quyền lợi của con anh K có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con .
Về tài sản chung và công nợ chung của vợ chồng: Chị Cao Thị Kim O khai vợ chồng chưa có tài sản chung và công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Cao Thị Kim O phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm được khấu trừ số tiền 300.000đ mà chị O đã nộp theo biên lai số 0003879 ngày 27/4/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình.
Án phí cấp dưỡng nuôi con anh Nguyễn Thế K phải chịu theo quy định của pháp luật.
Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa phát biểu tại phiên tòa đối với Thẩm phán và Thư ký trong quá trình giải quyết vụ án đã tuân thủ theo các quy định của pháp luật và tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã đảm bảo thực hiện đúng và đủ thành phần theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết chị Cao Thị Kim O đều có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án còn anh Nguyễn Thế K được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do, Tòa án đã tiến hành xác minh tại UBND xã T và thu thập đầy đủ chứng cứ theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa hôm nay chị Cao Thị Kim O có mặt còn anh Nguyễn Thế K vắng mặt không có lý do lần thứ 2 vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để xét xử vắng mặt anh Nguyễn Thế K. Về quan hệ hôn nhân đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình để xử chị Cao Thị Kim O được ly hôn anh Nguyễn Thế K. Về con chung đề nghị áp dụng các Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình giao con Nguyễn Cao Băng Băng, sinh ngày: 20/10/2015 cho chị Cao Thị Kim O chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến khi con khôn lớn, trưởng thành. Về nghĩa vụ cấp dưỡng đề nghị áp dụng các Điều 107, Điều 110 và Điều 116 luật hôn nhân và gia đình buộc anh Nguyễn Thế K phải có trách nhiệm và nghĩa vụ đóng góp tiền nuôi con hàng tháng mỗi tháng 1.000.000đ (một triệu đồng) cho đến khi con đủ 18 tuổi thời gian tính từ tháng 9/2020.Tài sản chung và công nợ không có nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Án phí dân sự sơ thẩm chị Cao Thị Kim O đã nộp số tiền 300.000đ tại chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuyên Hóa nay phải chịu toàn bộ và được khấu trừ, án phí cấp dưỡng nuôi con anh Nguyễn Thế K phải chịu 300.000đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Cao Thị Kim O đối với anh Nguyễn Thế K.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 để xét xử vắng mặt anh Nguyễn Thế K.
1. Về quan hệ hôn nhân: Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử: Chị Cao Thị Kim O được ly hôn anh Nguyễn Thế K.
2. Về con chung của vợ chồng: Áp dụng các Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình: Giao con Nguyễn Cao Băng B, sinh ngày: 20/10/2015 cho chị Cao Thị Kim O trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến khi con khôn lớn, trưởng thành
3. Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Áp dụng các Điều 107, Điều 110 và Điều 116 luật hôn nhân và gia đình buộc anh Nguyễn Thế K phải có trách nhiệm và nghĩa vụ đóng góp tiền nuôi con Nguyễn Cao Băng B, sinh ngày: 20/10/2015 mỗi tháng 1.000.000đ (Một triệu đồng) cho đến khi con đủ 18 tuổi. Thời gian tính từ tháng 9/2020.
Chị Cao Thị Kim O không được ngăn cản việc đi lại chăm sóc con chung đối với anh Nguyễn Thế K, trường hợp cần thiết vì quyền lợi của con anh Nguyễn Thế K có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.
4. Về tài sản chung và công nợ chung của vợ chồng: Không có, chị Cao Thị Kim O không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
5. Về án phí ly hôn: Chị Cao Thị Kim O phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền mà chị Cao Thị Kim O đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000đ theo biên lai số: 0003879 ngày 27/4/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình. Như vậy chị Cao Thị Kim O đã nộp đủ khoản án phí.
Án phí cấp dưỡng nuôi con anh Nguyễn Thế K phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng)
Án xử công khai sơ thẩm có mặt chị Cao Thị Kim O, vắng mặt anh Nguyễn Thế K. Tuyên bố chị O có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày xét xử sơ thẩm (13/8/2020), anh K có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết tại trụ sở UBND xã T, huyện H, tỉnh Quảng Bình.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh QB; - VKSND huyện Tuyên Hóa; - Chi cục THADS Tuyên Hóa; - Các đương sự; - UBND xã T; - Lưu Hồ sơ - Án văn. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đã Ký Trần Thanh Dần |