vanban.org

Bản án 19/2020/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim C đối với ông Lê Văn T và bà Nguyễn Thị Kim A.

Xử buộc ông Lê Văn T và bà Nguyễn Thị Kim A phải thực hiện nghĩa vụ đóng hụi chết 4 lần cho bà Nguyễn Thị Kim C số tiền là 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng). Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi bên phải thi hành án thi hành xong khoản tiền trên, hàng thán… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Nguyễn Thị Kim C - Lê Văn T, Nguyễn Thị Kim A"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim C đối với ông Lê Văn T và bà Nguyễn Thị Kim A.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ KIẾN TƯỜNG
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2020/DS-ST
Ngày: 16 - 7 - 2020
Về việc tranh chấp
hợp đồng góp hụi

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KIẾN TƯỜNG, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trình Văn Út.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Ngọc Thưởng.

Bà Trần Thị Ngọc Anh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Văn Công -Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An.

Ngày 16 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 20/2020/TLST-DS ngày 10 tháng 02 năm 2020 về việc tranh chấp hợp đồng góp hụi, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2020/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 5 năm 2020, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim C, sinh năm 1993; Địa chỉ: Khu phố 6, phường 2, thị xã K, tỉnh L (có mặt).

2. Bị đơn: Ông Lê Văn T, sinh năm 1986 và bà Nguyễn Thị Kim A, sinh năm 1987; Cùng địa chỉ: Khu phố 6, phường 2, thị xã K, tỉnh L (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim C các tài liệu chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ và lời trình bày của đương sự tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào năm 2018 bà C có tổ chức dây hụi 5.000.000 đồng/3 tháng khui 1 lần, khui lần đầu vào ngày 25 tháng 6 năm 2018, gồm 19 hụi viên, ông T, bà A tham gia chơi 01 phần, hụi khui lần thứ 2 vào ngày 25/9/2018 ông T, bà A hốt hụi, bà C đã giao tiền hụi đầy đủ cho ông T, bà A. Hụi khui lần thứ 3 vào ngày 25/12/2018, lần thứ 4 vào ngày 25/3/2019, lần thứ 5 vào ngày 25/6/2019, lần thứ 6 vào ngày 25/9/2019 ông T, bà A không đóng tiền hụi chết 4 lần là 20.000.000 đồng. Số nợ hụi này bà C yêu cầu nhiều lần nhưng ông T, bà A không đóng tiền hụi chết. Do đó bà C khởi kiện yêu cầu ông T, bà A đóng 4 lần hụi chết là 20.000.000 đồng (4 lần hụi chết x 5.000.000 đồng) trong thời hạn sớm nhất. Ngoài ra bà không yêu cầu gì thêm.

Sau khi nhận được đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim C Tòa án thụ lý giải quyết theo quy định của pháp luật. Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường đã ra Thông báo về việc thụ lý vụ án số 20/TB-TLVA ngày 10/02/2020; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số 27/TB-TA ngày 10/02/2020; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số 120/TB-TA ngày 24/4/2020 đã niêm yết hợp lệ cho ông T, bà A theo quy định tại Điều 179 của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng ông T, bà A không đến tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải của Tòa án. Do đó, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải không thể tiến hành được, nên Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Bà Nguyễn Thị Kim C, sinh năm 1993; Địa chỉ: Khu phố 6, phường 2, thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An khởi kiện tranh chấp hợp đồng góp hụi đối với ông Lê Văn T, sinh năm 1986 và bà Nguyễn Thị Kim A, sinh năm 1987; Cùng địa chỉ: Khu phố 6, phường 2, thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An. Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An thụ lý giải quyết là phù hợp với khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Sau khi ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa đã niêm yết hợp lệ cho ông Lê Văn T và bà Nguyễn Thị Kim A theo quy định tại Điều 179 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nhưng ông T, bà A không tham gia phiên tòa nên Hội đồng xét xử xử vắng mặt ông T, bà A là phù hợp với quy định của pháp luật tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Bà Nguyễn Thị Kim C khởi kiện tranh chấp hợp đồng góp hụi đối với ông Lê Văn T và bà Nguyễn Thị Kim A yêu cầu đóng tiền hụi chết 4 lần là 20.00.000 đồng được xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là hợp đồng góp hụi theo quy định tại Điều 471 của Bộ luật dân sự.

Tại phiên tòa bà Nguyễn Thị Kim C giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đối với ông Lê Văn T và bà Nguyễn Thị Kim A, yêu cầu ông T, bà A đóng tiền hụi chết 4 lần là 20.00.000 đồng, không yêu cầu tính lãi và đóng một lần trong thời gian sớm nhất. Xét thấy, yêu cầu của bà C là hoàn toàn tự nguyện và có chứng cứ chứng minh theo quy định tại Điều 91, 93, 95 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Vì vậy, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà C. Xử buộc ông Lê Văn T và bà Nguyễn Thị Kim A phải thực hiện nghĩa vụ đóng tiền hụi chết 4 lần là 20.00.000 đồng cho bà C là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 471 của của Bộ luật dân sự.

Đối với bị đơn ông Lê Văn T và bà Nguyễn Thị Kim A từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến khi xét xử không có văn bản ghi ý kiến của mình, không đến tham gia các phiên hòa giải và phiên tòa đối với yêu cầu khởi kiện của bà C nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Ông Lê Văn T và bà Nguyễn Thị Kim A phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm sung vào công quỹ nhà nước theo quy định tại khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 471 của Bộ luật dân sự; điểm b khoản 1 Điều 3, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim C đối với ông Lê Văn T và bà Nguyễn Thị Kim A.

Xử buộc ông Lê Văn T và bà Nguyễn Thị Kim A phải thực hiện nghĩa vụ đóng hụi chết 4 lần cho bà Nguyễn Thị Kim C số tiền là 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi bên phải thi hành án thi hành xong khoản tiền trên, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

Về án phí: Buộc ông Lê Văn T và bà Nguyễn Thị Kim A phải chịu 1.000.000 đồng (một triệu đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.

Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Kim C 500.000 đồng (năm trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0007421 ngày 05/02/2020 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bà C báo cho biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng ông T, bà A được quyền kháng cáo bản án trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ