- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vương Thị Hồng D - Nguyễn Việt H"
- Tòa quyết gì? nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ----------------- Bản án số:19/2019/LHST Ngày : 07/5/2019 Về việc: Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có: Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà : Bà Nguyễn Thị Kim Liên Các Hội thẩm nhân dân
: Ông Đinh Quang Huấn
Ông Nguyễn Đức Thành Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Đặng Thị Vân Kiều - Cán bộ Toà án Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì: Bà Đặng Thị Sơn Cầm – Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện T, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 163/2017/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2019 về việc tranh chấp "Ly Hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2019/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2019 giữa các đương sự.
Nguyên đơn: Chị Vương Thị Hồng D - sinh năm 1986
Trú tại : Khu Ga, thị trấn V, huyện T, thành phố Hà Nội.
Có mặt
Bị đơn: Anh Nguyễn Việt H - sinh năm 1984
Hộ khẩu thường trú: Khu Ga, thị trấn V, huyện T, thành phố Hà Nội.
Hiện đang chấp hành án tại đội 37, phân Trại III 700 trại giam T, thành phố Hà Nội
Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện ngày 21/10/2018 và bản tự khai ngày 03/4/2019 nguyên đơn chị Vương Thị Hồng D trình bày:
Chị D và anh H được tự do tìm hiểu và tự nguyện tổ chức lễ cưới. Đến ngày 22/3/2005 đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn V, huyện T, thành phố Hà Nội. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính là do không hợp nhau, anh H đi thụ án tại trại giam T. Nay chị D xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị D đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh H.
Về con chung: Theo chị D khai, chị và anh H có 02 con chung: cháu Nguyễn Huyền T - sinh ngày 19/10/2005, cháu Nguyễn Đức A sinh ngày 15/8/2009. Hiện nay hai cháu đang ở với chị D. Ly hôn, chị D có nguyện vọng xin được nuôi cả hai cháu và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và công nợ : Anh chị không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Tại biên bản tự khai ngày 12/4/2019 anh Nguyễn Việt H trình bày như sau:
Anh Nguyễn Việt H và chị Vương Thị Hồng D được tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Uỷ Ban nhân dân Thị trấn V, huyện T, thành phố Hà Nội. Sau khi tổ chức lễ cưới hai vợ chồng anh chị về chung sống tại khu Ga thị trấn V. Quá trình chung sống vợ chồng anh chị hạnh phúc đến cuối năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng anh H và chị D không hợp nhau dẫn đến mâu thuẫn, năm 2016 thì anh vi phạm pháp luật, đi thụ án tại trại giam Th. Nay chị D có đơn xin ly hôn đối với anh , anh H cũng nhất trí thuận tình ly hôn với chị D.
Về con chung: Anh xác nhận anh và chị D có 02 con chung là Nguyễn Huyền T - sinh ngày 19/10/2005 và cháu Nguyễn Đức A sinh ngày 15/8/2009. Ly hôn, anh H nhất trí để chị D trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung vì hiện nay anh đang thụ án nên không nuôi dưỡng chăm sóc các con.
Về tài sản chung, nhà ở và công nợ: Vợ chồng anh chị không có, không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết.
Về việc tham gia tố tụng: Hiện nay anh H đang thụ án tại trại giam nên không thể tham gia tố tụng theo giấy triệu tập của Tòa án được. Anh H có đơn đề nghị Tòa án xử vắng mặt anh H và gửi cho anh kết quả bản án, anh H không có ý kiến thắc mắc gì.
Tại phiên toà hôm nay :
Chị Vương Thị Hồng D vẫn giữ nguyên quan điểm xin được ly hôn với anh Nguyễn Việt H. Chị xin được nuôi hai con là cháu Nguyễn Huyền T và cháu Nguyễn Đức A. Chị D không yêu cầu H cấp dưỡng nuôi con vì anh H đang đi thụ án.
Về tài sản chung nhà ở và công nợ: vợ chồng chị không có, không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết
Tòa án nhân dân huyện T đã tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử cho anh Nguyễn Việt H theo quy định của pháp luật, anh H đã có đơn xin xét xử vắng mặt vụ án chị D ly hôn anh, vì anh đang đi thụ án tại trại giam T thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên toà phát biểu ý
kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng pháp luật. Xét thấy yêu cầu của chị D là chính đáng, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận. Đề nghị hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị D xin ly hôn anh H. Về tình cảm: chị Vương Thị Hồng D được ly hôn anh Nguyễn Việt H Về con: Giao hai con chung cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng và anh Hùng được tạm hoãn việc nuôi con chung. Chị D phải chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra trực tiếp tại
phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định: Chị Vương Thị Hồng D và anh Nguyễn Việt H kết hôn trên cơ sở tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 22/3/2005 tại Uỷ ban nhân dân thị trấn Văn Điển, huyện T, thành phố Hà Nội. Như vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp, tiến bộ. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chị về sống tại khu Ga, thị trấn V huyện T, thành phố Hà Nội. Vợ chồng chung sống hạnh phúc năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Năm 2016 anh H đi thụ án tại trại giam T. Nay chị D làm đơn xin ly hôn anh H, anh H đồng ý ly hôn. Tại phiên toà hôm nay chị D vẫn giữ nguyên quan điểm xin được ly hôn với anh H . Xét thấy tình trạng hôn nhân của chị D, anh H không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nêu yêu cầu xin ly hôn của chị D là có cơ sở để chấp nhận. Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị D được ly hôn với anh H.
Về con chung: Chị Vương Thị Hồng D và anh Nguyễn Việt H có 02 con chung Nguyễn Huyền T - sinh ngày 19/10/2005 và cháu Nguyễn Đức A sinh ngày 15/8/2009. Nay anh chị ly hôn, để đảm bảo quyền lợi cho cháu T và cháu A, căn cứ điều 58, điều 81, điều 82, điều 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Hội đồng xét xử giao cháu Nguyễn Huyền T và Nguyễn Đức A cho chị D trực tiếp chăm sóc giáo dục con chung. Chị D không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con, nên tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho đến khi các bên có đơn yêu cầu.
Về tài sản chung, nhà ở và công nợ: Chị D và anh H không có, không yêu cầu Toà án xem xét, nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí: Chị D phải chịu án phí theo qui định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo qui định tại Điều 271, 272 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn
nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 27 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án.
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 2 Điều 29; khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều
147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Khoản 1, 2 Điều 24 và khoản 8 Điều 27 Pháp lệnh án phí lệ phí Toà án.
Điều 24, Điều 26, Điều 27 Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016.
Xử:
1-Về quan hệ hôn nhân: Chị Vương Thị Hồng D được ly hôn anh Nguyễn Việt H.
2-Về con chung: Giao cháu Nguyễn Huyền T - sinh ngày 19/10/2005 và cháu Nguyễn Đức A sinh ngày 15/8/2009 cho chị Vương Thị Hồng D trực tiếp chăm sóc, giáo dục con chung. Anh H có quyền thăm nom chăm sóc con chung không ai được ngăn cản.
Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho đến khi các bên có đơn yêu cầu.
3-Về tài sản chung, nhà ở và công nợ: Chị D, anh H không có tài sản chung, không đề nghị Toà án xem xét, nên Hội đồng xét xử không xét.
4-Về án phí: Chị Vương Thị Hồng D phải chịu 300.000đồng ly hôn sơ thẩm, được trừ vào 300.000đồng Tạm ứng án phí chị D đã nộp theo biên lai số No 0008703 ngày 26/3/2019 tại cơ quan Thi hành án T. Chị D đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
5-Về quyền kháng cáo: Chị Vương Thị Hồng D có quyền kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Anh Nguyễn Việt H vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án .
| Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Kim Liên |