vanban.org

Bản án 19/2019/HSST — Hình sự

TAND TX. Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng Tuyên án 06/06/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lâm Minh D phạm tội “Cướp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lâm Minh D 07 (Bảy) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày 28/8/2018. Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại không yêu cầu nên không đặt ra xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "tội cướp tài sản - phạm tội cướp tài sản (điều 133 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lâm Minh D phạm tội “Cướp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THỊ XÃ VĨNH CHÂU
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2019/HSST
Ngày: 06/6/2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Huỳnh Hoa.

Nghề nghiệp: Cán bộ.

Nơi công tác: Hội Liên hiệp phụ nữ thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

2. Ông Triệu Khánh Long.

Nghề nghiệp: Cán bộ nghỉ hưu.

Nơi công tác: Hiện đang sinh hoạt Đảng tại Chi bộ Khóm 1, phường 1, thị

xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Tú Phương, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu.

Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Đy Na, Kiểm sát viên.

Trong ngày 06 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 22/2019/TLST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2019/QĐXXST-HS ngày 22/5/2019 đối với bị cáo:

Lâm Minh D, sinh năm: 1991, tại thị xã C, tỉnh D; Nơi cư trú: Khóm A, phường B,

C, tỉnh D; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Khmer; Tôn giáo; Không; Nghề nghiệp: Làm công

: không biết chữ; Con ông Lâm H (s) và bà Tăng Thị Xa L (s); Anh, chị, em ruột: Có 07 người lớn nhất sinh năm 1978, nhỏ nhất sinh năm 1993; Tiền án, Tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 28/8/2018; (Bị cáo có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Xuân Th, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh D. (có mặt)

Người bị hại: Nguyễn Văn V, sinh ngày 10/12/2000; (có mặt).

Nơi cư trú: ấp M, xã N, thị xã C, tỉnh D; (có mặt).

Người làm chứng:

1. Phan Hoàng V1 (N), sinh ngày 21/12/2001; (có mặt).

Nơi cư trú: ấp P, xã Q, thị xã C, tỉnh D.

2. Trần Công Ph, sinh năm 1975; (vắng mặt).

3. Kim T (B), sinh năm 1996;(vắng và có đơn xin xét xử vắng mặt).

4. Lâm Thị Ph1, sinh năm 1998;(vắng và có đơn xin xét xử vắng mặt).

Cùng nơi cư trú: ấp M, xã N, thị xã C, tỉnh D;

5. Trần Trọng Tr, sinh năm 1983;(vắng và có đơn xin xét xử vắng mặt).

Nơi cư trú: Khóm 1, phường 2, thị xã C, tỉnh D; (vắng mặt).

Người phiên dịch tiếng Khmer: Ông Sơn Ch, nguyên cán bộ Đài truyền thanh thị xã C, tỉnh Sóc Trăng; (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18 giờ 20 phút ngày 26/8/2018, Nhan L điều khiển xe mô tô Dream (không xác định được biển số) chở Tăng L1 ngồi giữa cầm cây cán len không có lưỡi và Lâm Minh D ngồi sau, lưu thông trên tuyến tỉnh lộ 936 từ hướng xã Vĩnh Hiệp về phường 1, thị xã C. Khi đến đoạn đường thuộc khóm Wáth Pích, phường Vĩnh Phước, thị xã Vĩnh Châu thì phát hiện bị hại Nguyễn Văn V điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Exciter biển số 83P3-67019 chở Phan Hoàng V1 đi cùng chiều phía trước. Lúc này, nhóm của Lâm Minh D, Nhan L và Tăng L1 nảy sinh ý định cướp xe của V nên Nhan L điều khiển xe vượt lên chặn đầu xe mô tô đang lưu thông làm cho V và V1 té ngã xuống đường. Liền lúc đó Lâm Minh D dùng cây cán leng đánh trúng một cái vào đầu của V làm cho nón bảo hiểm bị nứt. Nguyễn Văn V và Phan Hoàng V hoảng sợ bỏ chạy, nhóm của D, L và L1 liền chiếm đoạt chiếc xe mô tô nhãn hiệu Exciter biển số 83P3-67019 chạy về hướng phường 1, thị xã C. Nhận được tin báo bằng điện thoại của Nguyễn Văn V, ông Trần Công Ph đã đến chặn đường tại khu vực ngã ba đầu đường đi vào Vĩnh Hiệp, khi nhìn thấy xe của V chạy đến đã dùng xe mô tô đâm vào làm cho Nhan L và Lâm Minh D té ngã và bỏ chạy để lại chiếc xe vừa cướp được của bị hại Nguyễn Văn V tại hiện trường.

Đối với Nhan L sau khi bị khởi tố điều tra đã bỏ trốn khỏi địa phương. Cơ quan điều tra Công an thị xã Vĩnh Châu đã ra quyết định truy nã đến nay chưa bắt được.

Đối với Tăng L1 sau khi gây án đã bỏ trốn khỏi địa phương, cơ quan điều tra chưa làm việc được với Tăng L1, nên đã tách ra xử lý sau khi có đủ căn cứ theo quy định của pháp luật.

Tại Bản Kết luận định giá tài sản số: 22/KL-HĐĐGTS, ngày 27/8/2018 của Hội đồng định giá tài sản thuộc Ủy ban nhân dân thị xã Vĩnh Châu kết luận: chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển số 83P3-67019 có giá trị còn lại là 42.940.000 đồng.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 198/TgT-PY ngày 19/10/2018 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh Sóc Trăng kết luận bị hại Nguyễn Văn V tỷ lệ thương tật 00%.

Tại cơ quan điều tra Công an thị xã Vĩnh Châu bị cáo Lâm Minh D đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Tại bản Cáo trạng số: 11/CT-VKSVC ngày 25/3/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu đã truy tố bị cáo Lâm Minh D về tội “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự 2015).

- Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Lâm Minh D thừa nhận đã cùng đồng bọn dùng xe mô tô tạt đầu xe làm cho bị hại té ngã và chính bị cáo đã cầm cây cán leng đánh bị hại Nguyễn Văn V để chiếm đoạt chiếc xe mô tô nhãn hiệu Exciter biển số 83P3-67019. Do bị cáo D sử dụng xe mô tô và cây cán leng làm phương tiện phạm tội. Cho nên, hành vi của bị cáo Lâm Minh D đã thỏa mãn điều kiện quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lâm Minh D phạm tội “Cướp tài sản”. Và đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Căn cứ vào: Điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015

mức án từ 07 năm tù đến 08 năm tù.

+ Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Văn V không yêu cầu, nên không xem xét giải quyết.

+ Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 cái nón bảo hiểm màu xanh phía trên có 01 vết nứt và trầy xướt.

Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo thống nhất về tội danh và khung hình phạt theo cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét do bị cáo là người dân tộc Khmer và không biết chữ, nhận thức còn hạn chế nên mới phạm tội; bị cáo có nhân thân tốt, không tiền án, tiền sự; sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và tuyên phạt mức án khởi điểm theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đủ sức răn đe và giáo dục đối với bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo Lâm Minh D thống nhất với lời trình bày của người bào chữa và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về lao động sản xuất nhằm giúp đỡ gia đình.

Tại phiên tòa, bị hại Nguyễn Văn V thống nhất với nội dung bản Cáo trạng đã truy tố và lời nhận tội của bị cáo Lâm Minh D; Về trách nhiệm dân sự: Bị hại V đã nhận lại chiếc xe bị chiếm đoạt và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì khác. Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Lâm Minh D theo đúng quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Vĩnh Châu, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra bị cáo, bị hại xuất trình tài liệu, chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật; Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, những người làm chứng Kim T, Lâm Thị Ph1 và Trần Trọng Tr có đơn xin xét xử vắng mặt; riêng Trần Công Ph vắng mặt không rõ lý do. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra họ đã có lời khai đầy đủ và rõ ràng. Đồng thời, tại phiên tòa vị Kiểm sát viên, người bào chữa cho bị cáo và bị cáo, bị hại cũng đề nghị xét xử vắng mặt những người nêu trên. Xét thấy, sự vắng mặt của những người nêu trên không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án nên căn cứ vào Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lâm Minh D đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình là: Vào khoảng 18 giờ 20 phút ngày 26/8/2018, đã cùng đồng bọn dùng phương tiện là xe mô tô chặn đầu xe đang lưu thông làm cho bị hại té ngã, sau đó D trực tiếp dùng cây cán leng bằng kim loại đánh vào đầu bị hại để cướp tài sản là chiếc xe mô tô nhãn hiệu Exciter biển số 83P3-67019 có giá trị còn lại là 42.940.000 đồng.

Tại phiên tòa, cũng như trong quá trình điều tra bị hại Nguyễn Văn V và những người làm chứng đều khẳng định chính bị cáo Lâm Minh D là người trực tiếp dùng cây cán leng bằng kim loại đánh vào đầu bị hại làm cho bị hại hoảng sợ bỏ chạy để cướp chiếc xe nhãn hiệu Exciter biển số 83P3-67019. Nhận thấy, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại và những người làm chứng; phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thực nghiệm điều tra và biên bản xác định vật chứng cũng như các chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án.

Cho nên, Cáo trạng số 11/CT-VKSVC ngày 25/3/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu truy tố bị cáo: Lâm Minh D phạm tội: Cướp tài sản theo điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự 2015 là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, không oan sai cho bị cáo.

Bởi vì, hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm và gây nguy hại rất lớn cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự và an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo nhận thức được rằng hành vi dùng phương tiện là nguồn nguy hiểm cao độ và hung khí nguy hiểm để tấn công nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác là hành vi vi phạm pháp luật, là tội phạm mà pháp luật đã nghiêm cấm. Nhưng bị cáo vẫn bất chấp pháp luật, bất chấp tính mạng và sức khỏe của người khác để cố tình thực hiện đã gây ra sự hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân, làm cho nhân dân không an tâm lao động sản xuất. Do vậy, cần thiết phải xử lý bị cáo thật nghiêm trước pháp luật để cải tạo giáo dục bị cáo và cũng nhằm răn đe phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

Động cơ phạm tội của bị cáo Lâm Minh D là tham lam ích kỹ và xem thường sức khỏe, tính mạng của người khác. Chỉ vì muốn chiếm đoạt xe của bị hại mà bị cáo sẵn sàng lao xe chặn đầu và dùng hung khí nguy hiểm tấn công để cướp bằng được tài sản. Ý thức chủ quan của bị cáo D là phạm tội do cố ý.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lâm Minh D phạm tội do sử dụng phương tiện xe mô tô chặn đầu xe đang lưu thông làm cho bị hại té ngã và dùng cây can leng đánh vào vùng đầu của bị hại là thủ đoạn rất nguy hiểm, tình tiết này là yếu tố định khung hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự, nên không coi là tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự; Sau

khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội của mình; Bị cáo là người dân tộc khmer, không biết chữ nên nhận thức pháp luật hạn chế. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015,

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị hại Nguyễn VănV không yêu cầu bị cáo Lâm Minh D phải bồi thường nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

+ Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 cái nón bảo hiểm màu xanh phía trên có 01 vết nứt và trầy xướt. Riêng xe mô tô nhãn hiệu Exciter biển số 83P3-67019 đã xử lý xong là trả lại cho chủ sở hữu Nguyễn Văn V theo Quyết định số 22, ngày 28/8/2018.

Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và các Điều 23, 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo Lâm Minh D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, xét thấy đề nghị của vị Kiểm sát viên và người bào chữa cho bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo và đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho người bị hại, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Lâm Minh D phạm tội “Cướp tài sản”.

Căn cứ vào: Điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên xử:

1. Xử phạt bị cáo Lâm Minh D 07 (Bảy) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày 28/8/2018.

2. Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

3.Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 01 cái nón bảo hiểm màu xanh phía trên có 01 vết nứt và trầy xướt. Theo phiếu nhập kho số NK026 ngày 27/3/2019 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu.

4. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và các Điều 23, 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

- Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn luật định 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014)”.

Cỡ chữ