- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cướp tài sản - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phan Phú V phạm tội “Cướp tài sản”.
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2019/HSST Ngày: 02/4/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Tấn Hiếu
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Nguyễn Đình Đoan Hùng.
2/ Bà Bùi Thị Hoàng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thanh Hiền - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Lâm Xuân Long - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, xét xử sơ thẩm công khai công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 05/2019/TLST-HS ngày 29 tháng 01 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2019/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2019 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Phan Phú V, sinh năm 1998, tại Bến Tre; nơi cư trú: p PH, x PH, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ph H và bà Phan Thị Thanh C; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không, tiền sự: Ngày 05/10/2016, bị C ng an TP Cao nh xử phạt 750.000 đồng về hành vi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản, (chưa nộp phạt ; nhân thân: Ngày 22/4/2016, bị Tòa án nhân dân Thành phố Bến Tre xử phạt 06 tháng tù theo bản án số 24/2016/HSST (l c phạm tội chưa thành niên , Ngày 16/11/2016, Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh xử phạt 01 năm 03 tháng tù theo bản án số 85/HSST, Chấp hành xong ngày 02/8/2017. (l c phạm tội chưa thành niên , Ngày 30/11/2018, Tòa án nhân dân TP Bến Tre xử phạt 01 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” và 02 năm tù giam về tội “ ừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tổng hình phạt là 03 năm tù theo bản số 124/2018/HSST; Tạm giữ: Ngày 25/8/2018, tạm giam: Ngày 28/8/2018, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ C ng an thành phố Bến Tre theo Quyết định của T N thành phố Bến Tre.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Lê Thị Kim L, sinh năm 1997 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Khóm A, thị trấn MA, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp.
Người làm chứng:
1. Nguyễn Thanh H, sinh năm 1986, địa chỉ: Số BC, khu phố BT, Phường H, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre (Vắng mặt).
2. Đặng Trung H, sinh năm 1989, địa chỉ: Số M, ấp N, xã THT, huyện Cao Lãnh, Đồng Tháp (Vắng mặt).
3. Từ Cẩm Ng, sinh năm 1967, địa chỉ: ấp AT, xã MAH, huyện Lấp Vò, Đồng Tháp (Vắng mặt).
4. Trần Thị Ph, sinh năm 1968, địa chỉ: ấp AT, xã MAH, huyện Lấp Vò, Đồng Tháp (Vắng mặt).
5. Nguyễn Thị P, sinh năm 1967, địa chỉ: ấp AT, xã MAH, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Phan Ph V là người kh ng nghề nghiệp. Để có tiền tiêu xài, V đ nhiều lần phạm tội chiếm đoạt tài sản người khác và bị Cơ quan cảnh sát điều tra C ng an thành phố Bến Tre truy n về tội “Trộm cắp tài sản”. Trong thời gian lẫn trốn tại tỉnh Đồng Tháp, V tiếp tục thực hiện hành vi Cướp tài sản, cụ thể như sau:
Khoảng 02 giờ ngày 19/8/2018, do cần tiền tiêu xài cá nhân nên V mang theo một cây roi điện tự chế làm từ vợt mu i điện, điều khiển xe môtô từ nhà của Nguyễn Thị Yến N, ở ấp V, xã THT, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp đến thành phố Cao Lãnh, tìm nhà nào sơ hở để chiếm đoạt tài sản.
Khoảng 02 giờ 30 phút cùng ngày, V chạy xe đến nhà trọ “Kim Sa” ở khóm A, Phường B, thành phố Cao nh, V đi vào d y nhà trọ, khi đi ngang phòng số 17 nhìn qua khe cửa phòng thấy chị Lê Thị Kim L là sinh viên trường Đại học Đồng Tháp thuê để ở đang nằm ngủ một mình. V đến r cửa phòng và cho rằng mình là C ng an đến kiểm tra phòng. Khi chị mở cửa ra thì V đẩy L trở vào và chốt cửa phòng lại rồi lấy roi điện ra cầm trên tay bấm ra tia lửa điện, đồng thời sắn tay áo để lộ hình xăm trên cánh tay nhằm đe dọa chị . Biết kh ng phải C ng an kiểm tra phòng nên chị truy h nhưng do trời mua to nên kh ng có người nghe thấy, chị L chạy vào nhà vệ sinh trốn, V chạy theo và lấy con dao dài 14,8 cm, cán bằng ốp nhựa 10,2cm có chữ in i trên kệ chén trong phòng khống chế, buộc chị L ra kh i nhà vệ sinh và yêu cầu L ngồi trên giường trong phòng. V lấy mền che cửa phòng và lấy quần áo của chị che bóng đèn phòng lại nhằm kh ng để người ngoài nhìn thấy. Sau đó V buộc chị L đưa những trang sức đang đeo trên người gồm: 01 (một) sợi dây chuyền vàng 18 Kara trọng lượng 1,2 chỉ; 01 (một) nhẫn vàng 18 Kara có hột đá màu trắng trọng lượng 0,5 chỉ; 01 (một) lắc đeo tay vàng 18kara trọng lượng 1,2 chỉ. Vì lo sợ nên L tháo hết vòng vàng đeo trên người đưa cho V. V tiếp tục lấy 01 (một) cái bóp loại thổ cẩm của chị L để trên baga xe trong phòng (bên trong bóp chứa 150.000 đồng, một số tiền ngoại tệ có mệnh giá thấp và các giấy tờ tùy thân mang tên Lê Thị Kim L); 01 (một điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy A7 màu hồng và 01 (một) máy tính xách tay hiệu HP màu đen chị iên đang sạc pin ở trên giường. Khi cướp được tài sản, V khóa ngoài cửa phòng trọ, nhốt chị L bên trong và đe dọa sẽ giết nếu L la lên. Do hoảng sợ nên chị L im lặng, ở yên trong phòng đến sáng thì được chủ nhà trọ mở cửa phòng giải thoát và trình báo với cơ quan Công an.
Sau khi chiếm đọat được tài sản, V điều khiển xe môtô chạy về hướng lên hướng cầu Cao nh, khi đến gần dốc cầu thuộc Tổ A, ấp TT, xã TTH, thành phố Cao Lãnh, V ném áo khoác và roi điện xuống dưới chân cầu. V tiếp tục điều khiển xe m t đến thuê phòng số 07 nhà trọ “Vân âu” của anh ê Bá C, địa chỉ: ấp TTB, xã TM, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp. Tại đây, V kiểm tra, lấy hết tiền trong bóp của chị L, còn những giấy tờ tùy thân và cái bóp V ném b vào trong sọt rác của phòng trọ.
Đến khoảng 07 giờ sáng ngày 19/8/2018, V trả phòng và điều khiển xe chạy đến chợ Đất Sét thuộc xã MAH B, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp bán số vàng cướp được khoảng 4.000.000 đồng (kh ng nhớ r tên tiệm vàng . Sau đó, V điều khiển xe chạy về nhà của chị Yến N và bán điện thoại đ cướp của chị L cho anh Bùi Thanh T được 1.600.000 đồng, anh T bán lại điện thoại này cho Đặng Trung H số tiền 2.500.000 đồng.
Đến ngày 24/8/2018, V đang trên đường đi đến nhà của N thì bị Công an huyện Tháp Mười bắt theo quyết định truy n của Cơ quan điều tra C ng an thành phố Bến Tre. Khi bắt đ tạm giữ tài liệu đồ v t gồm: 01 xe m t loại Sirius, biển số 66M1-398.02; 01 cái bóp màu vàng đất; 01 đồng hồ đeo tay màu vàng- đen có chữ Movado Swiss Made 694; 01 dây đeo cổ màu đen, có mặt vàng- xanh; tiền Việt Nam 7.100 đồng; 01 tờ tiền mệnh giá 02 đ la Singapore, số 2KK837445; 02 tờ Trung Quốc mệnh giá 10 uan, số K 28582519 và JX02218071; 01 xu 50 cents tiền Hồng K ng.
Tại kết lu n định giá số 107 ngày 29/10/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Cao Lãnh, kết lu n: 01 dây chuyền vàng 18 Kara trọng lượng 1,2 chỉ có giá 2.700.000 đồng; 01 nhẫn vàng 18 Kara, trọng lượng 0,5 chỉ, có hột đá màu trắng có giá 1.125.000 đồng; 01 lắc tay vàng 18 kara trọng lượng 1,2 chỉ có giá 2.700.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy A7 màu hồng có giá 3.800.000 đồng. Tổng cộng 10.325.000 đồng. Đối với máy t nh xách tay hiệu HP màu đen, kh ng r đời máy, th ng số k thu t nên kh ng định giá được.
Tại C ng văn số 83/TCKH của Phòng Tài ch nh kế hoạch thành phố Cao nh thì t giá ngoại tệ ngày 19/8/2018 như sau: t giá đ la Singapore (S P mua vào 16.834 đồng, bán ra 17.048 đồng. Ngoại tệ iel và CN ( nhân dân tệ Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam chi nhánh Đồng Tháp kh ng có giao dịch loại ngoại tệ này nên kh ng có th ng tin.
Đối với máy t nh xách tay hiệu HP, V khai nh n bán Nguyễn Thanh H được 400.000 đồng, nhưng qua làm việc, đối chất H kh ng thừa nh n có mua của V nên kh ng đủ căn cứ xử lý H.
Đối với roi điện tự chế V khai ném b tại chân cầu Cao nh, cơ quan điều tra đ truy tìm nhưng kh ng tìm thấy.
Đối với xe m t loại Sirius, biển số 66M1-398.02 là của Nguyễn Văn N, cho cháu là Nguyễn Văn H mượn sử dụng. H cho V mượn và kh ng biết V dùng vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra C ng an huyện Tháp Mười đ trả lại cho N.
Cơ quan điều tra đ xử lý v t chứng trả lại cho bị hại Trần Thị Kim
gồm: 01 tờ tiền mệnh giá 02 đ la Singapore, 02 tờ tiền Trung Quốc mệnh giá 10 Yuan; 01 xu 50 cents tiền Hồng K ng; 01 cái áo hình b ng xanh trắng vàng; 01 mùng lưới màu trắng; 01 chùm chìa khóa; 01 ổ khóa bằng kim loại; 01 điện thoại di động hiệu Samsung alaxy 7 màu hồng; 01 cái v nữ dài 13cm, rộng 09cm bằng thổ cẩm nhiều màu; 01 th dự thi của Trường đại học Đồng Tháp; 01 th bảo hiểm tế; 01 giấy chứng nh n m t , xe máy; 01 chứng minh nhân dân; 01 giấy phép lái xe, 01 th TM.
Trả lại cho V những tài sản kh ng liên quan đến việc phạm tội, kh ng có giá trị thi hành án gồm: 01 cái bóp màu vàng đất; 01 đồng hồ đeo tay màu vàng đen có chữ Movado Swiss Made 694; 01 dây đeo cổ màu đen, có mặt vàng xanh; tiền Việt Nam 7.100 đồng.
Đối với 01 sợi dây chuyền vàng 18 Kara trọng lượng 1,2 chỉ; 01 nhẫn vàng 18 Kara có hột đá màu trắng trọng lượng 0,5 chỉ; 01 lắc đeo tay vàng 18k trọng lượng 1,2 chỉ chị yêu cầu bồi thường theo định giá là 6.525.000 đồng; 01 máy tính xách tay hiệu HP màu đen chị yêu cầu bồi thường 4.000.000 đồng, tổng cộng 10.525.000 đồng, những tài sản khác chị L kh ng yêu cầu bồi thường, con dao chị L kh ng yêu cầu nh n lại.
Tại cáo trạng số 08/CT-VKSTPCL, ngày 29/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh truy tố bị cáo về tội “Cướp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ lu t Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao nh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như trên. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ lu t Hình sự, xử phạt bị cáo từ 09 đến 10 năm tù, và áp dụng Điều 56 của Bộ lu t hình sự, tổng hợp hình phạt 03 năm tù theo bản án hình sự sơ thẩm số 124/2018/HSST, ngày 30/11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Bế Tre, tỉnh Bến Tre cùng với hình phạt của bản án này. Về v t chứng: Đề nghị tuyên như cáo trạng đ nêu.
Bị cáo thừa nh n hành vi phạm tội, xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đ được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nh n định như sau:
Hành vi của bị cáo bị truy tố: Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên bị cáo V mang theo một cây roi điện tự chế làm từ vợt mu i điện, điều khiển xe mô tô từ ấp 1, xã THT, huyện Cao nh, đến thành phố Cao Lãnh, tìm nhà nào sơ hở để chiếm đoạt tài sản. Khoảng 02 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo V chạy xe đến nhà trọ “Kim Sa” ở Khóm A, Phường B, thành phố Cao nh, V đi vào d y nhà trọ, khi đi ngang phòng số 17 nhìn qua khe cửa phòng thấy chị L đang nằm ngủ một mình. V đến r cửa phòng và cho rằng mình là C ng an đến kiểm tra phòng. Khi chị mở cửa ra thì V đẩy L trở vào và chốt cửa phòng lại rồi lấy roi điện ra cầm trên tay bấm ra tia lửa điện và con dao dài 14,8 cm của chị L đe dọa và khống chế chị L, buộc thị L phải giao tài sản gồm: 01 sợi dây chuyền vàng 18 Kara trọng lượng 1,2 chỉ; 01nhẫn vàng 18 Kara có hột đá màu trắng trọng lượng 0,5 chỉ; 01 lắc đeo tay vàng 18kara trọng lượng 1,2 chỉ; 01 điện thoại di động SamSung Galaxy A7 màu hồng trị giá 10.325.000 đồng, một máy t nh xách tay hiệu HP màu đen; 02 đ la trị giá 33.668 đồng cùng 150.000 đồng, tổng cộng trị giá 10.508.668 đồng.
Trong quá trình điều tra, truy tố Điều tra viên và Kiểm sát viên tiến hành tố tụng đ thực hiện đ ng theo quy định của Bộ lu t tố tụng hình sự; tại phiên tòa Kiểm sát viên đ thực hiện đ ng với quyền hạn và nhiệm vụ theo quy định.
Bị cáo là người đ thành niên, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo dùng roi điện tự chế và con dao là phương tiện nguy hiểm để đe dọa và khống chế buộc chị liên giao tài sản bị cáo chiếm đoạt tài sản tổng trị giá là 10.508.668 đồng, đ xâm phạm tài sản hợp pháp của chị Liên.
Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử kết lu n hành vi phạm tội của bị cáo đ phạm vào tội “Cướp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ lu t Hình sự.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho x hội, không những xâm phạm đến tài sản hợp pháp và sức kh e của người bị hại, mà còn gây mất tr t tự ở địa phương, gây hoang mang trong quần ch ng nhân dân lao động. Bị cáo có nhân thân xấu, đ từng bị xử phạt về tội “Trộm cắp tài sản” và “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, đ được nhà nước cải tạo giáo dục bị cáo, nhưng kh ng ăn năng cải sửa, lại tiếp tục phạm tội. o đó, cần phải có mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo đ thực hiện, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt và răn đe, phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, t ra ăn năn hối cải đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ lu t Hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường cho chị iên số tiền 10.525.000 đồng, phù hợp với pháp lu t nên chấp nh n.
Về v t chứng: Đối với 01 con dao dài 14,8 cm, cán bằng ốp nhựa 10,2 cm, chị Liên không yêu cầu được nh n lại, tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phan Phú V phạm tội “Cướp tài sản”.
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ lu t Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Phan Phú V 09 (ch n năm tù.
Căn cứ vào Điều 56 Bộ lu t hình sự, tổng hợp hình phạt 03 năm tù theo bản án hình sự sơ thẩm số 124/2018/HSST, ngày 30/11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Bế Tre, tỉnh Bến Tre, buộc bị cáo Nguyễn Phan Phú V phải chấp hành hai bản án là 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/8/2018.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo V bồi thường cho chị số tiền 10.525.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2, Điều 468 Bộ lu t dân sự năm 2015.
Về v t chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ lu t tố tụng hình sự.
Tịch thiu tiêu hủy 01 con dao dài 14,8 cm, cán bằng ốp nhựa 10,2 cm (hiện do Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao nh đang quản lý).
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Phan Phú V phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 526.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nh n được bản án hoặc niêm yết bản án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND TPCL - VKSND Tỉnh; - CQ CSĐT Công an TPCL; - CQ THAHS Công an TPCL; - Bị hại; - ưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Tấn Hiếu |