- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tạ Danh T và đồng phạm - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Tạ Danh T và Nguyễn Thành Đ phạm tội “Giết người”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2019/HSST Ngày: 16/5/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Lượng
Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Thành
Các hội thẩm nhân dân:1/ Bà Nguyễn Thị Chi
2/ Ông Nguyễn Văn Chiến
3/ Bà Vũ Thị Ngọc Tươi
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thế Mạnh – Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên
tòa: Ông Thái Ngọc Từ – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 05 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 112/2018/TLST-HS ngày 03 tháng 12 năm 2018 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2019/QĐXXST-HS ngày 19/02/2019 và Quyết định hoãn phiên toà: đối với các bị cáo:
1. Các bị cáo:
1.1.Tạ Danh T, sinh năm: 22/10/1996 tại tỉnh Nghệ An.
Nơi đăng ký thường trú: Ấp 1, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Chỗ ở hiện nay: Ấp 1, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 10/12. Nghề nghiệp: Không. Họ tên cha: Tạ Danh Tr, sinh năm: 1968. Họ tên mẹ: Trần Thị T1, sinh năm: 1973. Gia đình bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con thứ 2. Bị cáo sống chung như vợ chồng với chị Ngô Thị Mỹ H (không đăng ký kết hôn). Có một con Tạ Thị Ngọc A, sinh năm: 2017.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 13 tháng 6 năm 2014 bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 02 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
Bị tạm giữ từ ngày ngày 07 tháng 4 năm 2018, chuyển tạm giam theo Lệnh số 58/LTG ngày 16 tháng 4 năm 2018 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Nai. Có mặt.
1.2. Nguyễn Thành Đ, sinh ngày 10 tháng 8 năm 1997 tại tỉnh Đồng Nai.
Nơi đăng ký thường trú: Ấp 1, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Chỗ ở hiện nay: Ấp 1, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 10/12. Nghề nghiệp: Không. Họ tên cha: Nguyễn Văn M, sinh năm: 1968. Họ tên mẹ: Nguyễn Thị H1, sinh năm: 1972. Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ 2 và chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 02 tháng 6 năm 2016, bị Ủy ban nhân dân xã B huyện L xử phạt hành chính 2.500.000đ về hành vi: “Xâm hại đến sức khỏe của người khác nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự; Ngày 24 tháng 10 năm 2017 bị Ủy ban nhân dân xã B huyện L áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường thời hạn 03 tháng kể từ ngày 21 tháng 10 năm 2016 đến 21 tháng 01 năm 2017. Đã chấp hành xong.
Bị tạm giữ từ ngày 07 tháng 4 năm 2018, chuyển tạm giam theo Lệnh số 57/LTG ngày 16 tháng 4 năm 2018 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Nai. Có mặt.
2. Những người tham gia tố tụng:
2.1. Người bị hại: Ông Phạm Văn H2, sinh năm 1963. Địa chỉ: Ấp 2, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai. (Đã chết)
2.2. Đại diện hợp pháp của bị hại:
2.2.1. Anh Phạm Văn C1, sinh năm: 1988; Vắng mặt.
Địa chỉ: Ấp 2, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
2.2.2. Bà Lý Thị T3, sinh năm: 1963; Có mặt.
Địa chỉ: Ấp 2, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
2.3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2.3.1. Anh Dương Quang H3, sinh năm: 1992; Vắng mặt.
Địa chỉ: K16, ấp 1, xã T2, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
2.3.2. Anh Nguyễn Văn H4, sinh năm: 1991; Vắng mặt.
Địa chỉ: Ấp 2, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
2.3.3. Anh Hồ Đăng H5, sinh năm: 1976; Vắng mặt.
Địa chỉ: Ấp 6, xã T2, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
2.3.4. Anh Ngô Đức D, sinh năm: 2002; Vắng mặt.
Địa chỉ: Ấp 6, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
2.4. Người làm chứng:
2.4.1. Anh Nguyễn Đình Th, sinh năm: 1995; Có mặt.
Địa chỉ: Ấp 2, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Hiện đang chấp hành hình phạt tại Trại giam Đ1, B1, Lâm Đồng.
2.4.2. Anh Phạm Hồng Th1, sinh năm: 1996; Có mặt.
Địa chỉ: Ấp 7, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
2.5. Người bào chữa cho các bị cáo theo luật định: Ông Nguyễn Triệu Q - Luật sư thuộc Văn phòng luật sư Ph - Đoàn luật sư tỉnh Đồng Nai. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19h30 ngày 05 tháng 4 năm 2018, Tạ Danh T và Nguyễn Thành Đ đến quán nhậu K tại ấp 2, xã B, huyện L để uống rượu cùng với một số người bạn. Đến khoảng 22h00 cùng ngày, Đ gọi điện thoại cho em họ là Nguyễn Đình C lấy lại xe mô tô biển số: 60C1-987.89 Đ cho C mượn trước đó, nhưng C cho biết anh ruột của C là Nguyễn Đình Th đang mượn chiếc xe này. Nghe vậy, Đ gọi điện thoại cho Th thì Th nói đang đi công việc, tí nữa sẽ trả xe. Đợi khoảng 30 phút không thấy Th mang xe về trả, Đ tiếp tục gọi điện thoại hỏi Th đang ở đâu thì Th cho biết đang ở ngã tư Nông trường cao su Th2 là khu vực giáp ranh giữa xã B và xã T2 huyện Long Thành. Sau đó, Đ mượn xe mô tô biển số 60 C1-235.99 của T đồng thời rủ T đi cùng để lấy lại xe. Khi đi đến ngã tư Nông trường Th2, T và Đ gặp Th và hỏi Th sao ngồi đây, Th nói đang chờ bạn để giao đồ, lúc này Đ không biết giao đồ là đồ gì. Do đợi lâu nên Đ và T bực tức nảy sinh ý định nếu gặp những người này sẽ đánh để dằn mặt.
Một lát sau có 02 đối tượng là Dương Quang H3 và Nguyễn Văn H4 điều khiển xe mô tô biển số 60L5-8841 (xe của anh của Đinh Minh Nh) đến gặp Thanh. Ngay sau khi Th giao bịch ma túy cho H3 và H4 thì T và Đ xông tới đánh nên H3 và H4 bỏ xe lại chạy vào khu chòi bảo vệ của Nông Trường cao su Th2. T, Đ tiếp tục đuổi theo để đánh nhưng sau đó H4 và H3 trốn được. Trong lúc tìm H3 và H4 trong chòi bảo vệ, phát hiện thấy trên bàn đá của chòi bảo vệ có một bình nước bằng sứ, nên T lấy bình uống nước, rồi cầm bình mang theo trên tay đi bộ ra đường, leo lên ngồi sau xe của Đ đang chờ sẵn tiếp tục đi tìm H4 và H3. Thấy T và Đ đi, Th cũng điều khiển xe đi theo sau.
Đi một đoạn khoảng hơn 50 mét về hướng xã T2 thì T và Đ gặp ông Phạm Văn H2, sinh năm 1963, ngụ tại Ấp 2, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai đang đi bộ một mình từ hướng xã T2 qua xã B trong tình trạng đã uống rượu. Vừa đi ông H2 vừa nói: “Tao sỉn rồi, tao chấp hết tụi bay”. Nghe vậy Đ dừng xe lại, xông đến dùng tay chân đánh ông H2 nhiều cái, bị ông H2 đánh lại, thì T xông đến bước tới sát người ông H2, tay phải cầm bình nước bằng sứ giơ lên cao, đập mạnh từ trên xuống dưới, từ phải qua trái trúng đầu ông H2 làm bình sứ bị vỡ. Th chứng kiến sự việc và đến can ngăn Đ và T. Bị đánh ông ông H2 loạng choạng bỏ đi.
Đ, T cùng Th tiếp tục điều khiển xe về hướng xã T2 khoảng 100 mét thì phát hiện anh Hồ Đăng H5 đang dắt xe mô tô, bực tức việc không tìm thấy H4 và H3 nên Đ và T tiếp tục xuống đấm anh H5, anh H5 không chống cự nên tất cả lên xe đi về.
Trên đường quay về, phát hiện thấy xe mô tô biển số 60L5-8841 H4 và H3 bỏ lại trên đường, T nói với Th và Đ mang về nộp cho Công an xã B rồi trực tiếp điều khiển xe này. Đồng thời, T gọi điện thoại cho anh Th1 là bạn của T và trước đây là Công an xã B nói cho anh Th1 biết mới đánh nhau với nhóm Th niên xã T2 và họ bỏ xe lại, T muốn mang xe đi ra Công an xã nộp thì anh Th1 nói: “giờ đã khuya, mai mang ra nộp”, sau đó, cả nhóm đi về quán nhậu K. Tại đây, T nhờ bạn là Ngô Đức D sáng hôm sau mang xe mô tô 60L5-8841 ra Công an xã nộp giúp T thì được D đồng ý và gửi xe lại quán K. Sau đó, T và D điều khiển xe đi về nhà, trên đường về T bị tai nạn giao thông phải đưa đi cấp cứu. Sáng hôm sau, Đ nhờ bạn mình là Nguyễn Văn Hoài Ph mang xe mô tô 60L5-8841 đến trả cho Đinh Minh Nh.
Sáng ngày 06/4/2018, người dân phát hiện nạn nhân Phạm Văn H2 chết tại nhà kho của Nông trường cao su Th2, cách vị trí ông H2 bị T và Đ đánh khoảng 1,5km. Qua xác minh, Công an huyện Long Thành xác định được Tạ Danh T và Nguyễn Thành Đ là đối tượng gây án nên đã tiến hành bắt giữ.
* Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 06 tháng 4 năm 2018 xác định: Nơi phát hiện ra nạn nhân tại Nhà kho của Nông trường Th2, địa chỉ: ấp 2, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Vị trí nạn nhân cách tường hướng Đông 1,2m về hướng Đông, cách tường hướng Bắc 5,3m về hướng Nam, tử thi nằm ngửa theo hướng Bắc Nam (đầu quay về hướng Nam, chân quay về hướng Bắc), tay trái đặt trên trán, tay phải và hai chân duỗi. Tử thi ở trần, mặc quần đùi màu xanh, không mặc quần lót. Trên người, mặt và nền xi măng cạnh đầu tử thi dính nhiều máu.
- Giáp tử thi về hướng Tây, sát tường phía Đông nhà kho có một số khung kim loại đặt chồng lên nhau, phía trên cùng đặt 01 tấm tôn kích thước 1,1m x 2,5m; mặt trên tấm tôn dính nhiều vết máu dạng quệt trên diện 1,1m x 1,2m.
- Cách chân tử thi 1,1m về hướng Đông phát hiện 01 chiếc quần kaki màu xám dính nhiều máu, trên quần có 01 thắt lưng màu đen và 01 ví da, trong ví có một số giấy tờ tùy thân mang tên Phạm Văn H2.
- Cách đầu tử thi 1,7m về hướng Nam là chiếc cột nhà bằng bê tông, trên mép hướng Tây Bắc của cột, cao cách nền 0,7m có dấu vết máu hình ngón tay dạng quệt kích thước 26cm x 2cm. Trên mặt hướng Nam của cột cao cách nền 0,8cm có dấu vết máu kích thước 0,1m x 0,07m.
- Giáp cột trên về hướng Bắc là vị trí 02 thùng rác bằng nhựa, trên tay nắm thùng rác màu vàng thấy có vết máu dạng quệt trên diện 10cm x 3cm cách đất 83cm.
- Trên hiên, cách mép hướng Bắc của cửa hướng Bắc 3,15m về hướng Đông Nam, cách chân tử thi 2,2m về hướng Bắc là một số dấu vết máu dạng quệt và nhỏ giọt trên nền nhà kích thước 1,75m x 1,5m (ký hiệu số 2).
- Trên khoảng đất trống, cách cửa hướng Bắc về hướng Đông 3,5m, cách chân tử thi về hướng Đông Bắc 5,4m phát hiện chiếc điện thoại di động hiệu Samsung, màu bạc, kích thước 4,4cm x 7,1cm, trên điện thoại có nhiều vết máu dạng quệt (ký hiệu số 1).
- Trên khoảng đất trống, cách cửa hướng Bắc về hướng Đông Bắc 9,2m, cách chân nạn nhân về hướng Đông Bắc 12m phát hiện 01 chiếc quần lót màu nâu, trên quần có dính chất màu nâu (nghi là phân). Cách quần lót 1,8m về hướng Nam có 01 đám chất màu nâu (nghi là phân). Cách quần trên về hướng Tây Nam 2,5m phát hiện trên mặt đất một đám máu dạng nhỏ giọt trên diện 30cm x 20cm.
- Cách tử thi 5m về hướng Nam, cạnh cột hiên hướng Đông Nam có đặt 01 hộp phòng cháy chữa cháy kích thước 0,67m x 0,45m x 0,26m, trên phần mặt cửa hộp phía bên ngoài có dính dấu vết máu dạng quệt, diện 40cm x 30cm. Giáp vị trí này về hướng Tây trên nền hiên phát hiện một số dấu vết máu trên diện 1m x 0,7m (ký hiệu số 4).
- Cách góc tường hướng Đông Nam nhà kho 8m về hướng Đông Nam là 02 trụ bê tông giăng rào lưới B40 bị đổ trên diện tích 4m (hàng rào ngăn cách giữa nông trường với vườn điều của anh Nguyễn Văn Đ2). Trên cột bê tông bị đổ ở phía Tây và đám cỏ khô gần cột này có dính dấu vết máu dạng nhỏ giọt và quệt trên diện 0,5m x 0,3m (ký hiệu số 5).-Trên vườn điều của anh Nguyễn Văn Đ2 phát hiện:
- Cách chân trụ bê tông hướng Tây bị đổ trên về hướng Nam 1,4m phát hiện một số dấu vết máu dạng nhỏ giọt trên lá khô, diện 1,35m x 0,85m (ký hiệu số 6).
- Cách chân trụ bê tông bị đổ hướng Đông 2,6m về hướng Nam phát hiện một số dấu vết máu dạng nhỏ giọt trên lá khô, diện 1,27m x 0,89m (ký hiệu số 7).
- Cách vết số 7 về hướng Đông Nam 17,9m (hướng ra cổng phía Đông) phát hiện trên mặt đất một số vết màu nâu (nghi là máu) kích thước 5cm x 10cm (ký hiệu số 8).
- Cách vết số 8 về hướng Đông 12m phát hiện trên mặt đất 01 chiếc áo màu trắng kích thước 0,78m x 0,6m, trên áo có dính nhiều dấu vết máu dạng ngấm, nền đất bên cạnh áo có vết máu dạng nhỏ giọt trên diện 4,4cm x 7,1cm (ký hiệu số 9).
- Cách chiếc áo 4,2m về hướng Đông là lối vào vườn điều được giăng dây kẽm gai và dây nhựa, tại đây phát hiện trên đoạn dây nhựa cách nền đất 1,35m có dính dấu vết máu dạng quệt trên diện 30cm x 2cm, cách đầu hướng Bắc của đoạn dây nhựa trên 1,5m về hướng Bắc. Phía dưới trên dây kẽm gai cách đất 70cm phát hiện có đoạn dính chất màu nâu trên diện 7cm x 4cm nghi là máu (ký hiệu số 10).
Mở rộng hiện trường về hướng Nam khoảng 1,5km trên đường liên xã B - T2 ngay ngã tư giữa 04 lô cao su kí hiệu 161, 162, 191, 192 của Nông trường Th2 thấy: Tại đây là đường đất, rộng 8,6m, hai bên đường không có hệ thống đèn chiếu sáng.
- Tại ngã tư trên đường hướng đi Suối 1, cách lề đường hướng Nam 3,2m về hướng Bắc phát hiện 01 khúc cây gỗ dài 1,39m, đường kính 0,06m.
- Trên phần đường hướng đi ấp 6, cách ngã tư 2,5m về hướng Tây, cách lề đường hướng Bắc 2,6m về hướng Nam thấy trên mặt đường phát hiện 01 chiếc dép xốp, dép phải, hiệu Adidas, màu xanh trắng, kích thước 0,26m x 0,1m. Cách chiếc dép trên 1,8m về hướng Nam trên mặt đường phát hiện 01 cây gỗ dài 1,24m đường kính 0,04m.
- Trên phần đường hướng đi xã T2, cách ngã tư trên 51m về hướng Nam, cách lề đường hướng Đông 1,9m là 01 chiếc chìa khóa xe máy.
- Trong lô cao su 192, cách chiếc chìa khóa trên 16,5m về hướng Đông phát hiện một số dấu vết máu dạng nhỏ giọt trên lá cây kích thước 0,7m x 0,4m và một số vết máu dính trên lá cây dại.
- Cách chiếc chìa khóa 8m về hướng Nam, cách lề đường hướng Đông 1,3m phát hiện nhiều mảnh vỡ bình sứ trên diện 5,6m x 5m. Trong đó phần miệng bình bị vỡ kích thước 14cm x 7cm, có nhiều sợi tóc dính ở mặt trong, trên phần đáy bình vỡ kích thước 10cm x 9cm có dính dấu vết máu ở mặt ngoài trên diện 9cm x 3,5cm.
- Cách mảnh bình vỡ trên 2,2m về hướng Nam, cách lề đường hướng Đông 5m là miếng bê tông bị vỡ kích thước 35cm x 22cm nằm giữa đường.
- Cách mảnh bình vỡ 30,1m về hướng Nam, cách lề đường hướng Đông 1,6m thấy trên mặt đất 01 chiếc đồng hồ kim loại màu vàng hiệu “Rado” và chiếc nhẫn kim loại màu vàng.
- Cách đồng hồ 0,2m về hướng Tây, cách lề đường hướng Đông 1,8m trên mặt đường có nhiều sợi tóc bị đứt nằm rải rác trên diện 0,7m x 2,9m.
- Cách đồng hồ 0,4m về hướng Đông Bắc, cách lề đường hướng Đông 1,3m là vết máu nhỏ giọt trên diện 0,15m x 0,11m.
- Cách đồng hồ 4,2m về hướng Tây Bắc, cách lề đường hướng Đông 5m là chiếc nắp bình sứ, đường kính 7cm.
* Tại Bản kết luận giám định pháp y số 211/PC54-KLGĐPY ngày 12 tháng 4 năm 2018 của Giám định viên, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai xác định thương tích và nguyên nhân tử vong của anh Phạm Văn H2 như sau:
Nguyên nhân tử vong: Chấn thương sọ não vỡ xương sọ, xuất huyết màng não, xuất huyết não thất.
Hung khí: Vật tày có cạnh, vật tày.
* Tại Bản kết luận giám định số 2960/C09B ngày 25 tháng 9 năm 2018 của Giám định viên Phân viện Khoa học hình sự, Tổng cục Cảnh sát tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:
- Dấu vết tóc dính phía mặt trong miệng bình sứ và dấu vết màu nâu đỏ dính ở mặt ngoài trên phần đáy bình vỡ đều là tóc và máu người. Các dấu vết tóc và máu này là tóc và máu của ông Phạm Văn H2.
Tại bản Cáo trạng số 1086/CT-VKS-P2 ngày 15/11/2018, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã truy tố các bị cáo Tạ Danh T và Nguyễn Thành Đ về tội “Giết người” theo Điểm n, Khoản 1, Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai:
Giữ nguyên Cáo trạng truy tố các bị cáo Tạ Danh T và Nguyễn Thành Đ về tội danh Giết người theo Điểm n, Khoản 1, Điều 123 Bộ luật hình sự 2015. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến tính mạng của người bị hại, cần xử lý nghiêm. Hành vi của Tạ Danh T là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến cái chết của người bị hại ông Phạm Văn H2; Hành vi của bị cáo Nguyễn Thành Đ tham gia với vai trò đồng phạm trong vụ án (dùng tay đánh ông H2) nên cũng phải chịu mức án tương xứng với vai trò và hành vi đã gây ra. Căn cứ tính chất mức độ của hành vi phạm tội các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt Tạ Danh T từ 16 (mười sáu) đến 18 (mười tám) năm tù. Nguyễn Thành Đ từ 07 (bảy) đến 08 (tám) năm tù.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.
Ý kiến của luật sư Nguyễn Triệu Q bào chữa cho các bị cáo:
Nhất trí tội danh Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã truy tố đối với các bị cáo, không tranh luận gì thêm. Tuy nhiên, xét hành vi các bị cáo cáo trạng cho rằng mang tính chất côn đồ là không thể hiện rõ ràng, hai bên ẩu đả nhau không ai chứng kiến, ai là người đánh trước, ai là người đánh sau, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại.
Về các tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo đều thành khẩn khai báo nhận tội, khắc phục hậu quả bồi thường và được đại diện hợp pháp người bị hại làm đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo Đ tham gia với vai trò đồng phạm, không trực tiếp gây ra cái chết cho người bị hại. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho 02 bị cáo để sớm trỡ về đoàn tụ với gia đình, làm công dân tốt, có ý thức pháp luật sau này.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Luật sư bào chữa cho các bị cáo, các bị cáo không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh:
Tại phiên tòa hôm nay, qua lời thẩm vấn công khai và đối chiếu với các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm tử thi, biên bản giám định pháp y; các bị cáo Tạ Danh T và Nguyễn Thành Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, đủ cơ sở chứng minh hành vi của các bị cáo đã thực hiện như sau: Vào khoảng 23 giờ ngày 05 tháng 4 năm 2018, Nguyễn Thành Đ điều khiển xe mô tô biển số 60 C1
- 235.99 chở Tạ Danh T thì gặp ông Phạm Văn H2 đang đi bộ trên đường lô cao su hướng xã T2 qua xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai trong tình trạng say rượu. Khi gặp Tạ Danh T, Nguyễn Thành Đ ông H2 có nói: “Tao xỉn rồi, tao chấp hết tụi bay”. Bực tức, Đ xuống xe dùng tay đánh nhiều cái vào người của ông H2, bị ông H2 đánh lại, thì T cầm bình nước bằng sứ chuẩn bị từ trước đập vào đầu ông H2. Hậu quả ông Phạm Văn H2 tử vong do chấn thương sọ não vỡ xương hộp sọ, xuất huyết màng não, xuất huyết não thất.
Hành vi của các bị cáo Tạ Danh T và Nguyễn Thành Đ đã phạm vào tội “Giết người” theo quy định tại điểm n, khoản 1, Điều 123 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã truy tố các bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật.
Về hình phạt:
Hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, chỉ xuất phát từ một mâu thuẫn vô cớ mà các bị cáo đã tước đoạt mạng sống của người bị hại, thể hiện tính côn đồ, hung hăng, xem thường pháp luật không chỉ gây đau thương mất mát cho gia đình bị hại, làm mất trật tự trị an tại địa phương, vi phạm pháp luật hình sự mà còn gây hoang mang dao động trong quần chúng nhân dân. Bên cạnh đó, mặc dù các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nhưng bản thân các bị cáo có nhân thân xấu. (bị cáo Tạ Danh T đã bị xử phạt 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” năm 2014; Bị cáo Nguyễn Thành Đ đã bị xử lý hành chính về hành vi xâm phạm sức khoẻ người khác năm 2016 và giáo dục tại xã phường 2017). Do đó, cần xử phạt các bị cáo mức án nghiêm khắc, cách ly xã hội thời gian để cải tạo, giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
Trong vụ án này, bị cáo T đóng vai trò chính, là người trực tiếp cầm bình nước đập vào đầu của người bị hại dẫn đến tử vong. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo T mức án tương xứng với hành vi đã gây ra. Bị cáo Đ là người có hành vi đánh người bị hại trước, nhưng không phải là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới cái chết của người bị hại. Do đó, cũng cần áp dụng mức hình phạt tương xứng, nhưng nhẹ hơn so với bị cáo T.
Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng xem xét, quá trình điều tra Gia đình bị cáo Tạ Danh T đã bồi thường số tiền 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng) và gia đình bị cáo Nguyễn Thành Đ đã bồi thường số tiền 150.000.000đ (một trăm năm mươi triệu đồng). Quá trình điều tra bị cáo T, bị cáo Đ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, ông nội của Đ là người có công với cách mạng, đại diện hợp pháp của người bị hại đã có đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s, Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nên giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo là phù hợp.
Ngoài ra trong vụ án này các bị cáo còn có hành vi lấy xe mô tô biển số 60L5-8841 của anh Đinh Minh Nh, nhưng xét thấy do T, Đ không có ý thức chiếm đoạt chiếc xe trên nên, ngay ngày hôm sau đã trả lại cho chủ sở hữu nên không xử lý là phù hợp.
Đối với hành vi của Nguyễn Đình Th xét thấy khi T, Đ tham gia đánh nạn nhân H2, Th không tham gia và có can ngăn, nên không có cơ sở xử lý về đồng phạm.
Đối với hành vi mua, bán trái phép chất ma túy của Nguyễn Đình Th và một số đối tượng liên quan, đã được Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xét xử trong các vụ án khác nên không giải quyết trong vụ án này.
Đối với hành vi của Tạ Danh T và Nguyễn Thành Đ đuổi, đánh Nguyễn Văn H4, Dương Quang H3 và Hồ Đăng H5. Quá trình điều tra anh H4, anh H3 và anh H5 khai chỉ bị thương tích nhẹ không yêu cầu xử lý, anh H3 từ chối giám định nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai không xử lý hình sự là phù hợp.
Qua tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử thấy rằng: ý kiến bào chữa của luật sư về các tình tiết giảm nhẹ là phù hợp nên ghi nhận; Riêng ý kiến về hành vi của các bị cáo không mang tính côn đồ là không có cơ sở chấp nhận.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.
Về trách nhiệm dân sự: Bà Lý Thị T3 là vợ của nạn nhân Phạm Văn H2, đại diện cho gia đình người bị hại yêu cầu Tạ Danh T và Nguyễn Thành Đ phải bồi thường 300.000.000 đồng. Các bên đã thỏa thuận, bên gia đình bị cáo Tạ Danh T đã bồi thường số tiền 40.000.000 đồng, gia đình bị cáo Nguyễn Thành Đ đã bồi thường số tiền 150.000.000 đồng. Bà Lý Thị T3 chấp nhận không yêu cầu gì thêm và đã viết đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ vật chứng bao gồm:
- 01 chiếc quần kaki màu xám, trên quần có 01 thắt lưng màu đen và 01 ví da, một số giấy tờ tùy thân mang tên Phạm Văn H2.
- 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung, màu bạc.
- 01 chiếc quần lót màu nâu, chất màu nâu dính trên quần lót.
- 01 chiếc đồng hồ kim loại màu vàng.
- 01 chiếc nhẫn kim loại màu vàng.
- 01 chiếc áo màu trắng.
Các vật chứng trên Công an huyện Long Thành tỉnh Đồng Nai đã giao cho gia đình nạn nhân Phạm Văn H2 nên không xử lý.
Đối các vật chứng khác bao gồm:
- 01 chiếc chìa khóa xe honda.
- 01 khúc gỗ dài 1,39m, đường kính 0.06m.
- 01 khúc gỗ dài 1,24m, đường kính 0.04m.
- 01 chiếc dép phải hiệu Adidas màu xanh trắng.
- Các mảnh bình sứ bị vỡ và nắp bình sứ.
Là vật chứng không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy theo quy định.
Đối với Một số đoạn tóc bị đứt và các dấu vết máu thu tại vị trí được nêu trong Biên bản khám nghiệm hiện trường. Sau khi giám định đã chuyển giao cho Sở y tế lưu giữ, quản lý theo quy định nên không xử lý.
Đối với chiếc xe mô tô biển số: 60C1-978.89 thuộc sở hữu của bà Nguyễn Thị H1 mẹ của bị cáo Nguyễn Thành Đ, bà H1 không biết Đ dùng xe để gây án nên Cơ quan điều tra không thu giữ và không xử lý là phù hợp.
Về án phí: Các bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố các bị cáo Tạ Danh T và Nguyễn Thành Đ phạm tội “Giết người”.
Áp dụng điểm n, khoản 1, Điều 123; Điểm b, s, Khoản 1, Khoản 2, Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo: Tạ Danh T 16 (mười sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/4/2018
Xử phạt bị cáo: Nguyễn Thành Đ 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/4/2018.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Tịch thu tiêu hủy các vật chứng bao gồm:
- 01 chiếc chìa khóa xe honda.
- 01 khúc gỗ dài 1,39m, đường kính 0.06m.
- 01 khúc gỗ dài 1,24m, đường kính 0.04m.
- 01 chiếc dép phải hiệu Adidas màu xanh trắng.
- Các mảnh bình sứ bị vỡ và nắp bình sứ.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số NK. 190014 ngày 16.11.2018 của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Đồng Nai).
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH-14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai, có mặt bị cáo, đại diện hợp pháp của người bị hại, luật sư bào chữa theo quy định. Báo cho biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Đồng Nai (1); - VKSND cấp cao tại TP.Hồ Chí Minh; - Trại tạm giam công an tỉnh Đồng Nai (1); - Phòng PV 27 – Công an tỉnh Đồng Nai (1); - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai (1); - Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an tỉnh Đồng Nai (PC 45) (1); - Phòng Thi hành án hình sự Tòa án tỉnh (1); - Cục thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai (1); - Các bị cáo (2); - Đại diện hợp pháp bị hại (2); - Luật sư (1); - Lưu hồ sơ (4). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký tên và đóng dấu) Nguyễn Thành Lượng |