vanban.org

Bản án 19/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Vĩnh Bảo, TP. Hải Phòng Tuyên án 04/07/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nguyễn Văn Th (tên gọi khác Nguyễn Văn D) 42 (Bốn mươi hai)

tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt để tạm giam là ngày 23-11-2018. Phạm Danh Th1 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Nguyễn Văn Th (tên gọi khác Nguyễn Văn D) 42 (Bốn mươi hai)
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH BẢO
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2019/HSST
Ngày: 04-7-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Văn Vinh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Tâm;

Ông Nguyễn Văn Quyết;

-Thư ký phiên toà: Ông Vũ Viết Hoàn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 14/2019/TLST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2019/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 6 năm 2019 đối với:

-Bị cáo:

1. Nguyễn Văn Th (tên gọi khác Nguyễn Văn D), sinh năm 1990, tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn Q Kh, xã V Ph, huyện V B, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Thưởng, con bà Nguyễn Thị Xòe; có vợ là Nguyễn Thị Huyền; có 1 con; tiền sự: Không, tiền án: Bản án số 62/2016/HSST ngày 30-8-2016 Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình phạt 2 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (chưa được xóa án tích); bị bắt tạm giam ngày 23-11-2018, có mặt.

2. Phạm Danh Th1, sinh năm 1986, tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn Tr H, xã H H, huyện V B, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 1/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Danh Hùng, con bà Vũ Thị Hà ; có vợ là Nguyễn Thị Quỳnh; có 01 con; tiền sự: Không; tiền án: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 222/2017/HS-ST ngày 15-11-2017 của Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (chưa được xóa án tích). Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2010/HSST ngày 26-4-2010 của Tòa án nhân dân Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 18 tháng tù về tội Cướp giật tài sản (đã được xóa án tích); Bản án hình sự sơ thẩm số 04/2012/HSST ngày 13-01-2012 của Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (đã được xóa án tích). Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21-02-2019, có mặt.

3. Đỗ Mạnh T, sinh năm 1990, tại Hải Phòng; Đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Xóm chợ, xã C H, huyện V B, thành phố Hải Phòng; Chỗ ở: Thôn T L, xã Đ M, huyện V B, Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn Lâm, con bà Dương Thị Thúy; có vợ là Nguyễn Thị Hương; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam ngày 16-11-2018, có mặt.

- Người bị hại: Ông Nguyễn Duy Đ, sinh 1984; trú tại: Thôn Ph Tr, xã H T, huyện V B, Hải Phòng, có đơn xin xử vắng mặt.

- Người làm chứng:

1. Anh Nguyễn Xuân Hưng, vắng mặt.

2. Anh Vũ Văn Đề, vắng mặt.

3. Anh Phạm Quốc Cư, vắng mặt.

4. Anh Ngô Khắc Phong, vắng mặt.

5. Anh Vũ Văn Long, vắng mặt

6. Anh Phạm Danh Cường, có mặt

7. Anh Nguyễn Văn Doãn, vắng mặt.

8. Anh Nguyễn Duy Dân, vắng mặt.

9. Anh Nguyễn Bá Thời, vắng mặt.

10. Anh Đặng Văn Đương, vắng mặt.

11. Chị Nguyễn Thị Hương, có mặt.

12. Ông Nguyễn Văn Tốt, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 04 giờ ngày 18-10-2018, Phạm Danh Th1, anh Nguyễn Duy Đ, anh Ngô Khắc Phong cùng với một số người bạn đến ăn đêm tại khu vực bến xe thuộc địa phận thôn Nhân Mục, xã Nhân Hòa, huyện Vĩnh Bảo. Một lúc sau Đỗ Mạnh T và vợ là Nguyễn Thị Hương cũng đến ăn đêm tại quán bên cạnh nên Th1 đã sang ngồi nói chuyện với vợ chồng T. Tuy nhiên anh Đ không bằng lòng nên đã bảo Th1 về nhưng Th1 không nghe. Do bực tức, anh Đ lấy 01 chiếc tuýp sắt ở quán ăn cầm sang đánh Th1, Th1 chạy ra xe máy của T lấy 01 chiếc kiếm bằng kim loại đang cài trên xe lao đến đánh nhau với anh Đ. Thấy vậy mọi người can ngăn nên không gây nên hậu quả gì, anh Đ quay lại ngồi uống nước cùng với mọi người, còn Th1 đi về nhà T cùng với vợ chồng T.

Sau khi về đến nhà T, chị Hương mở cửa cho Th1 vào trong rồi đi vào phòng ngủ. Còn T do nhận được điện thoại của anh Phạm Quốc Cư là chủ quán karaoke Phú Linh ở thôn Nhân Mục, xã Nhân Hòa, huyện Vĩnh Bảo nhờ T đón Nguyễn Xuân Hưng sinh năm 1982 ở thôn Cống Hiền, xã Cộng Hiền, huyện Vĩnh Bảo đến giúp đỡ anh Cư vì có người đập phá cửa quán mà anh Cư chỉ có một mình, T đồng ý và đi đón Hưng. Trong thời gian này, Nguyễn Văn Th (tên gọi khác là Nguyễn Văn D) đi đến nhà T và gặp Th1 ở đó nhưng cả hai không nói chuyện gì với nhau.

Sau khi đón được Hưng, T đưa Hưng về nhà mình và bảo Th đi cùng đến giúp anh Cư, Th đồng ý. Thấy vậy, Th1 cũng bảo đi cùng nên T đã điện thoại gọi xe taxi đến đón. Khi xe taxi do anh Đặng Văn Đương đến, T mang theo 01 chiếc túi xách màu đen ở bên trong có một lưỡi dao bầu, một đầu nhọn, một đầu có gien xoắn và 01 chiếc tuýp sắt, một đầu có gien xoắn mà nếu lắp lưỡi dao trên vào thì sẽ tạo thành 01 chiếc giáo. Th lấy 01 chiếc kiếm bằng kim loại dài 0,88m dưới gầm bàn uống nước của nhà T. Th1 mang theo chiếc kiếm mà trước đó đã dùng đánh nhau với anh Đ như nêu trên. Còn Hưng thì không mang theo gì. Sau đó T, Th1, Th và Hưng cùng đi xe taxi đến quán của anh Cư. Trên đường đi, Th1 và anh Đ có điện thoại mắng chửi nhau.

Khi đi đến cây xăng ở cạnh bến xe, Th1 thấy anh Đ và một số người bạn vẫn đang ngồi trong quán ăn cạnh đó nên đã bảo anh Đương dừng xe lại nhưng T không đồng ý mà bảo anh Đương tiếp tục đi đến quán của anh Cư. Tuy nhiên do còn bực tức về việc anh Đ đánh mình trước đó và việc mắng chửi nhau trên điện thoại như nêu trên, Th1 vẫn bảo anh Đương dừng xe lại rồi cầm theo chiếc kiếm xuống xe và lao đến chỗ anh Đ chém thì bị vấp ngã. Thấy vậy anh Đ đi ra thì Th1 nhặt kiếm đứng lên và bỏ chạy, anh Đ đuổi theo. Cùng lúc này anh Đương đang cho xe quay đầu để T, Th và Hưng đi đến quán của anh Cư thì nhìn thấy nên đã dừng xe lại trước cửa cây xăng. Khi anh Đ đuổi theo Th1 đến và đứng cạnh xe, T mang theo chiếc tuýp sắt có gắn lưỡi dao nhọn hay còn gọi là chiếc giáo,Thương mang theo chiếc kiếm trên, còn Hưng không mang theo gì xuống xe. Lúc này do bực tức về việc anh Đ đuổi đánh Th1 nên T cầm chiếc giáo xông đến chém anh Đ 01 cái theo hướng từ trên xuống, anh Đ giơ tay trái lên đỡ làm bị thương ở cẳng tay, Th cầm kiếm bằng tay trái chém 01 cái trúng vào cẳng tay phải của anh Đ, Th1 cũng cầm kiếm xông vào chém Đ nhưng không trúng. Còn anh Đ đã dùng tay bắt giữ được chiếc giáo của T nên giằng co với T làm cả hai ngã. Th, Th1 tiếp tục lao đến, Th dùng kiếm chém trúng chân trái của anh Đ, Th1 dùng chân đạp vào người anh Đ và dùng kiếm chém anh Đ nhưng không trúng. Riêng Hưng chỉ đứng ở khu vực đầu xe nói chuyện với anh Vũ Văn Đề mà không có hành động, lời nói gì. Được mọi người can ngăn nên Th1, T, Th và Hưng lên xe bỏ đi, còn anh Đ được mọi người đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Vĩnh Bảo rồi chuyển đến Bệnh viện 108 điều trị, đến ngày 24-10-2018 thì ra viện.

Sau khi sự việc xảy ra, ngày 30-10-2018, Th1 đến Công an huyện Vĩnh Bảo đầu thú và khai nhận về toàn bộ sự việc.

Ngày 16-11-2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Bảo đã tiến hành khám xét đối với chỗ ở của T và đã thu giữ được một số đồ vật, tài sản, trong đó có 1/2 viên nén (dạng viên thuốc) màu xanh cốm ở trong chiếc ví màu đen.

Tại bản kết luận giám định pháp y số 574/2018/TgT ngày 12-11-2018 của Trung tâm pháp y Hải Phòng đã kết luận về thương tích của anh Nguyễn Duy Đ như sau: “… Nạn nhân bị vết thương phức tạp cẳng bàn tay phải có đứt bó mạch thần kinh trụ, vết thương phần mềm cẳng tay trái, gân khoeo chân trái. Đã được điều trị đang dần ổn định. Còn hạn chế vận động cẳng cổ bàn tay phải… Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của nạn nhân do vết thương cẳng bàn tay phải gây nên là 15%, chưa tính phần trăm tổn thương thần kinh trụ phải. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của nạn nhân do vết thương cẳng tay trái gây nên là 01% . Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của nạn nhân do vết thương khoeo chân trái gây nên là 03%. Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của nạn nhân do các thương tích trên gây nên là 18%. Riêng tổn thương thần kinh trụ của vết thương cẳng bàn tay phải do chưa ổn định nên để lại. Nếu cần thiết sẽ giám định sau… Vết thương cẳng bàn tay phải và vết thương cẳng tay trái có đặc điểm do vật sắc tác động trực tiếp gây nên và phù hợp với vết thương do bị chém. Vết thương mặt ngoài khoeo chân trái có đặc điểm do vật sắc hoặc sắc nhọn đều có thể gây nên được nhưng phù hợp với vết đâm do vật sắc nhọn hơn là vết chém”.

Tại bản kết luận giám định pháp y bổ sung số 114/2019/TgT ngày 12-03-2019 của Trung tâm pháp y Hải Phòng đã kết luận bổ sung đối với thương tích của anh Nguyễn Duy Đ như sau: “… Nạn nhân bị vết thương phức tạp cẳng bàn tay phải có đứt bó mạch thần kinh trụ, vết thương phần mềm cẳng tay trái, gân khoeo chân trái. Đã được điều trị tương đối ổn định, còn giảm cảm giác và vận động vùng thần kinh trụ phải chi phối bị tổn thương…Trong bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 574/2018/TgT ngày 12-11-2018 của Trung tâm Pháp y Hải Phòng đã kết luận tỷ lệ phần trăm tổn cơ thể của nạn nhân do các thương tích trên gây nên là 18% (chưa tính tổn thương thần kinh trụ). Riêng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của tổn thương dây thần kinh trụ cẳng tay phải gây nên là 13%. Như vậy tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của nạn nhân do toàn bộ các thương tích trên gây nên theo phương pháp cộng lùi và làm tròn số là 29%”.

Tại bản kết luận giám định số 121/KLGĐ (Đ6) ngày 31-03-2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng đã kết luận về 1/2 viên nén (dạng viên thuốc) đã thu tại chỗ ở của Đỗ Mạnh T trong quá trình khám xét khẩn cấp như sau: “… Mẫu vật gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1814 gam, là loại MDMA… Hoàn lại toàn bộ vỏ bao bì của mẫu vật được niêm phong lại trong bì thư theo niêm phong số 121/2019/PC09”.

Bản cáo trạng số 17/CT-VKSVB ngày 10 tháng 5 năm 2019, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo đã truy tố Nguyễn Văn Th tên gọi khác Nguyễn Văn D, Phạm Danh Th1, Đỗ Mạnh T về tội Cố ý gây thương tích theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự (BLHS) 2015.

Kết thúc phần xét hỏi, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội khẳng định việc truy tố Nguyễn Văn Th, Phạm Danh Th1, Đỗ Mạnh T về tội Cố ý gây thương tích theo điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS 2015 là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, Điều 17, Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS 2015. Đối với Nguyễn Văn Th, Phạm Danh Th1 phải áp dụng thêm điểm h khoản 1 Điều 52, Phạm Danh Th1 được áp dụng thêm điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS tuyên bố Nguyễn Văn Th, Phạm Danh Th1, Đỗ Mạnh T đồng phạm tội Cố ý gây thương tích, phạt

Nguyễn Văn Th từ 42 tháng tù đến 48 tháng tù

Phạm Danh Th1 từ 24 tháng tù đến 30 tháng tù

Đỗ Mạnh T từ 24 tháng tù đến 30 tháng tù

Phạm Danh Th1 đã bồi thương thiệt hại về sức khỏe cho anh Nguyễn Duy Đ là 10.000.000 đồng nay anh Đ không yêu cầu Th, T và Th1 phải bồi thường tiếp nên không giải quyết. Tịch thu tiêu hủy 1 tuýp sắt, 1 kiếm sắt, 1 túi màu đen, 1 ví, vỏ bao bì đựng ½ viên ma túy.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn Th, Phạm Danh Th1 và Đỗ Mạnh T đã khai nhận hành vi của mình như đã nêu trên.

Tại lời nói sau cùng: Nguyễn Văn Th, Phạm Danh Th1 và Đỗ Mạnh T đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Vĩnh Bảo, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

-Về tội danh:

Lời khai nhận tội của các bị cáo là hoàn toàn rõ ràng, phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người bị hại, phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ đã đủ cơ sở xác định: Ngày 18-10-2018, tại Bến xe Vĩnh Bảo thuộc địa phận xã Nhân Hòa, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng, chỉ vì mẫu thuẫn nhỏ, Phạm Danh Th1, Nguyễn Văn Th, Đỗ Mạnh T đã dùng giáo, kiếm là hung khí nguy hiểm đánh, chém anh Nguyễn Duy Đ gây thương tích cho anh Đ có tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 29%. Như vậy đã đủ cơ sở kết luận Nguyễn Văn Th, Phạm Danh Th1, Đỗ Mạnh T đã đồng phạm tội Cố ý gây thương tích, vi phạm điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS 2015.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác, gây mất trật tự, trị an - xã hội. Do đó, cần phải xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

. Về vai trò: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo không có sự bàn bạc câu kết chặt chẽ. Nguyễn Văn Th là người giữ vai trò chính, thương tích trên người anh Đ chủ yếu do Th gây ra, sau đó đến Phạm Danh Th1, Đỗ Mạnh T có vai trò ngang nhau.

Về nhân thân: Các bị cáo đều khai báo thành khẩn, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt nên các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ này quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS; Phạm Danh Th1 được hưởng tình tiết giảm nhẹ tự nguyện bồi thường và đầu thú quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Nguyễn Văn Th có 01 tiền án: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 62/2016/HSST ngày 30-8-2016 Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình phạt 02 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (chưa được xóa án tích); Phạm Danh Th1 có 01 tiền án: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 222/2017/HS-ST ngày 15-11-2017 của Tòa án nhân dân Quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (chưa được xóa án tích), Phạm Danh Th1 còn có 02 tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2010/HSST ngày 26-4-2010 của Tòa án nhân dân Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 18 tháng tù về tội Cướp giật tài sản (đã được xóa án tích); Bản án hình sự sơ thẩm số 04/2012/HSST ngày 13-01-2012 của Tòa án nhân dân Quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (đã được xóa án tích). Phạm Danh Th1, Nguyễn Văn Th đều phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS. Trong vụ án này anh Nguyễn Duy Đ cũng có một phần lỗi đã gây sự, chửi bới các bị cáo trước. Xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình phạt cho các bị cáo xong cần cách ly các bị cáo khỏi xã hội mới đủ để giáo dục các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

Đối với Nguyễn Xuân Hưng là người đã đi cùng với Th1, T và Th khi xảy ra vụ việc. Tuy nhiên mục đích của Hưng đến giúp đỡ anh Phạm Quốc Cư như nêu trên, giữa Hưng với T, Th1, Th không có trao đổi, bàn bạc gì về việc đánh anh Đ và việc đánh anh Đ là do T, Th1, Th thực hiện. Hơn nữa trong quá trình T, Th1, Th đánh anh Đ thì Hưng chỉ đứng nói chuyện với anh Vũ Văn Đề mà không có hành động, lời nói hoặc tham gia gì. Cơ quan điều tra không xử lý đối với Hưng là phù hợp.

Đối với hành vi cất giữ, tàng trữ 1/2 viên nén (dạng viên thuốc) có khối lượng 0,1814 gam, là ma túy, loại MDMA của T để trong chiếc ví của chị Hương là vợ T: Mặc dù đây là ma túy, loại MDMA, có khối lượng trên 0,1 gam, đủ định lượng cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 249 BLHS. Tuy nhiên do mục đích của T mua là để sử dụng vào việc chơi đá gà chọi, không phải để cho T hoặc người khác sử dụng. Đồng thời khi mua T không biết đó là ma túy mà chỉ biết đó là thuốc cho gà uống, không phải thuốc để dùng cho người và T đã cho gà uống 1/2 viên (để cho gà khỏe, đá hăng). Hơn nữa viên thuốc này có đặc điểm không giống như những viên ma túy bình thường khác vì không có ký hiệu gì, chỉ có màu xanh cốm và T không nghiện ma túy nên không biết đó là ma túy. Do đó không xử lý đối với T về hành vi này là phù hợp.

Về dân sự: Anh Nguyễn Duy Đ bị tổn thương cơ thể 29% phải điều trị phục hồi sức khỏe. Phạm Danh Th1 đã tự nguyện bồi thường cho anh Nguyễn Duy Đ 10.000.000 đồng nay anh Đ không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường tiếp. Việc không yêu cầu bồi thường thiệt hại của anh Đ là tự nguyện nên không đặt ra để giải quyết.

Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Bảo đã thu giữ gồm: 01 chiếc kiếm dài 80cm, mũi nhọn, cán được quấn băng dính màu đỏ, đen, trắng và 01 chiếc tuýp sắt dài 1,07 m, một đầu có gien xoắn là các hung khí mà Th1, T đã sử dụng gây thương tích cho anh Đ; 01 chiếc túi màu đen mà T đã sử dụng để đựng lưỡi dao bầu là công cụ dùng vào việc phạm tội cần tịch thu tiêu hủy. 01 ví, vỏ bao bì đựng ma túy không phải là vật chứng nhưng tại phiên tòa chị Hương không nhận lại chiếc ví; tài sản không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy. Riêng chiếc lưỡi dao bầu một đầu nhọn, một đầu có gien xoắn mà T đã lắp vào chiếc túyp sắt trên rồi dùng để đánh anh Đ và 01 chiếc kiếm mà Th đã sử dụng thì T và Th đã vứt bỏ đi sau khi sự việc xảy ra nên không thu giữ được. Còn 01 chiếc gậy gỗ hình trụ dài 1,12m, một đầu có đục lỗ và buộc dây vải màu đỏ; 01 chiếc tuýp sắt dài 1,55m, một đầu gắn 01 lưỡi dao nhọn; 01 chiếc kiếm bằng kim loại dài 0,88m; 01 chiếc tuýp sắt dài 1,47m, một đầu gắn 01 lưỡi dao bầu mũi nhọn dài 20cm; 01 con dao mác bằng kim loại dài 68cm, cán dài 37cm; 03 chiếc biển số của xe máy là 17K3- 2896, 14P4- 9420 và 16N5- 4472, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Bảo đã tách ra để tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào có đủ căn cứ sẽ xử lý sau là đúng quy định của pháp luật.

Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Văn Th, Phạm Danh Th1, Đỗ Mạnh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, Điều 17, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; áp dụng thêm điểm b khoản 1 Điều 51 và điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS đối với Phạm Danh Th1; áp dụng thêm điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS 2015 đối với Nguyễn Văn Th, tuyên bố Nguyễn Văn Th, Phạm Danh Th1, Đỗ Mạnh T đồng phạm tội Cố ý gây thương tích. Phạt:

Nguyễn Văn Th (tên gọi khác Nguyễn Văn D) 42 (Bốn mươi hai)

tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt để tạm giam là ngày 23-11-2018.

Phạm Danh Th1 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Đỗ Mạnh T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt để tạm giam là ngày 16-11-2018.

2. Vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, tịch thu tiêu hủy 01 chiếc kiếm, 01 chiếc tuýp sắt ; 01 chiếc túi màu đen 1 ví, 1 vỏ bì thư. Vật chứng có đặc điểm như biên bản bàn giao giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Bảo và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Bảo.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 BLTTHS. Căn cứ Điều 6, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn Th, Phạm Danh Th1, Đỗ Mạnh T mỗi người phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ