vanban.org

Bản án 19/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận Tuyên án 18/03/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Đăng H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Đăng H 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mƣời hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 18-3-2019). Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Phạm Đăng H, nếu bị cáo Phạm Đăng H không bị tạm giam về một tội phạm khác. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Đặng H - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Đăng H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TP. P
TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2019/HS-ST
Ngày 18-3-2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P,

TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Đạt

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Huỳnh Phƣơng Nam

Ông Lê Đình Nguyên

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Thanh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố P

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đào Nhã Tƣởng - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 3 năm 2019, tại Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 15/2019/TLST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2019/QĐXXST-HS ngày 05-3-2019 đối với bị cáo:

PHẠM ĐĂNG H, sinh ngày 25-10-2001 tại Ninh Thuận;

Nơi cư trú: K 2, phường Đ, thành phố P; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Đăng S, sinh năm 1969 (chết) và bà: Nguyễn Thị L, sinh năm 1966 (chết); chưa có vợ con;

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 15-02-2019 đến 18-02-2019 và tạm giam từ ngày 18-02-2019 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Đại diện hợp pháp của bị cáo: Chị Phạm Thị Thu D, sinh năm 1996 (Có mặt).

Nơi cư trú: K 2, phường Đ, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận.

Ngƣời bào chữa cho bị cáo: Ông Lưu Văn H – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Ninh Thuận (có mặt).

- Bị hại: Em Nguyễn Đình Như Y, sinh ngày 30-12-2003 (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Nguyễn Đình L - là cha ruột (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Cùng nơi cư trú: K 6, phường P, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị Mỹ T, sinh năm 1978 (vắng mặt).

Nơi cư trú: K 4, phường B, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận.

- Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 2000 (Vắng mặt).

Nơi cư trú: K 4, phường B, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có quen biết từ trước, nên khoảng 18 giờ ngày 08-5-2018, Phạm Đăng H (là người dưới 18 tuổi) đã nhắn tin cho Nguyễn Đình Như Y (sinh 30-12-2003; Trú: K 6, phường P, TP. P, tỉnh Ninh Thuận) thông qua mạng xã hội Facebook để rủ Nguyễn Đình Như Y đi chơi và được Nguyễn Đình Như Y đồng ý. Sau đó, Phạm Đăng H ra đứng chờ Nguyễn Đình Như Y đến đón tại trường tiểu học Đài S (thuộc k 2, phường Đ, thành phố P). Khoảng 19 giờ 30 phút, Nguyễn Đình Như Y chạy xe đạp điện đến chỗ Phạm Đăng H đang chờ và cùng Phạm Đăng H đi ra quảng trường 16-4 chơi. Đến khoảng 21 giờ 30 phút, Phạm Đăng H chở Nguyễn Đình Như Y về trên xe của Y. Trên đường đi về, Phạm Đăng H nảy sinh ý định chiếm đoạt xe đạp điện của Nguyễn Đình Như Y để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Khi đến đoạn đường thuộc hẻm 21 TN, Phạm Đăng H giả vờ làm rơi 01 chiếc dép và nói Nguyễn Đình Như Y xuống nhặt dùm. Khi Nguyễn Đình Như Y xuống nhặt dép thì Phạm Đăng H tăng ga chạy xe đi. Lúc này, Nguyễn Đình Như Y có gọi theo và hỏi Phạm Đăng H đi đâu thì Phạm Đăng H quay đầu lại nói với Nguyễn Đình Như Y đứng đó chờ Phạm Đăng H đi lấy đồ một xíu rồi Phạm Đăng H sẽ quay lại. Một lúc sau chờ không thấy Phạm Đăng H quay lại, Nguyễn Đình Như Y nghĩ mình đã bị Phạm Đăng H lừa lấy mất xe nên đã đến Công an phường Đ trình báo toàn bộ sự việc.

Sáng hôm sau, Phạm Đăng H chạy xe đạp điện đã chiếm đoạt được đến gặp bạn tên Trương Nguyễn Văn T (sinh năm 2000, HKTT: K 4, phường B, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận) để nhờ T bán xe giúp. Sau đó, T dẫn Phạm Đăng H đến gặp chị Nguyễn Thị Mỹ T (sinh năm 1978, HKTT: K 4, phường B, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận) đang có nhu cầu cần mua xe đạp điện. Sau khi thỏa thuận, Phạm Đăng H đã bán xe cho chị Nguyễn Thị Mỹ T với giá 1.800.000đ. Đến tối cùng ngày thì Phạm Đăng H đón xe vào thành phố H.

Ngày 09-10-2018, Phạm Đăng H về lại địa phương thì được Cơ quan điều tra mời đến làm việc và Phạm Đăng H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 32/KLTS ngày 15-10-2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố P, kết luận: 01 xe đạp điện màu xanh lá, nhãn hiệu BMX Star có giá trị thực là: 4.245.000đ.

Vật chứng của vụ án:

Cơ quan điều tra đã thu giữ:

- 01 chiếc dép hiệu DDLDS, màu đen có viền xanh của Phạm Đăng H hiện không còn giá trị sử dụng, Cơ quan điều tra đề nghị tịch thu tiêu hủy là có căn cứ.

- 01 xe đạp điện màu xanh lá, nhãn hiệu BMX Star, đây là tài sản của em Nguyễn Đình Như Y, Cơ quan điều tra đã trả lại cho em Nguyễn Đình Như Y là có căn cứ. Em Nguyễn Đình Như Y không yêu cầu gì khác về dân sự.

Đối với Trương Nguyễn Văn T và chị Nguyễn Thị Mỹ T, khi T giới thiệu cho chị T mua xe đạp diện của H, cả T và chị T không biết đây là tài sản do H phạm tội mà có, nên Cơ quan điều tra không đề nghị xử lý hình sự là có căn cứ. Bị cáo Phạm Đăng H đã bồi thường cho chị Nguyễn Thị Mỹ T số tiền 1.800.000đ và chị Nguyễn Thị Mỹ T không có yêu cầu gì khác.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận diễn biến sự việc xảy ra như nội dung cáo trạng đã truy tố.

Cáo trạng số 05/CT-VKS-PRTC ngày 03-01-2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Ninh Thuận truy tố bị cáo Phạm Đăng H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên việc truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015; các điểm b (Bồi thường thiệt hại), i (phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng), điểm s (Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải), điểm h (phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn) khoản 1 và khoản 2 (Đầu thú) Điều 51, điểm i khoản 1 Điều 52; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Phạm Đăng H từ 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách;

- Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo: Nhất trí với nội dung của bản cáo trạng cũng như quan điểm của Viện kiểm sát về tội danh. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo Phạm Đăng H: Tại thời điểm phạm tội bị cáo Phạm Đăng H là người dưới 18 tuổi nhận thức pháp luật, xã hội còn hạn chế; đã bồi thường thiệt hại; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; chưa có tiền án, tiền sự quy định tại các điểm b, i, s, h khoản 1, 2 Điều 51; Việc xử lý người dưới 18 tuổi pha ̣m tô ̣i chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp họ sửa chữa lỗi lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.

Bị cáo không tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo, luật sư bào chữa cho bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các chứng cứ khác đã được thu thập tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định:

Ngày 08-5-2018 khi đang chở em Nguyễn Đình Như Y về, Phạm Đăng H đã dùng thủ đoạn gian dối, giả vờ làm rơi chiếc dép, nhờ em Nguyễn Đình Như Y xuống xe nhặt dùm rồi chiếm đoạt 01 xe đạp điện màu xanh lá, nhãn hiệu BMX Star của Nguyễn Đình Như Y có giá trị là 4.245.000đ.

Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P truy tố bị cáo Phạm Đăng H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, cần xử lý nghiêm minh trước pháp luật để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự (Thời điểm phạm tội ngày 08-5-2018 bị hại Nguyễn Đình Như Y, sinh ngày 30-12-2003 mới chỉ 14 tuổi 04 tháng 08 ngày).

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng cho bị cáo: Bị cáo bồi thường thiệt hại; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, đầu thú quy định tại các điểm b, i, s, h khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy:

Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, mức độ hành vi nguy hiểm cho xã hội, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và những đặc điểm về nhân thân của bị cáo, xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có 01 tình tiết tăng nặng, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, khi phạm tội bị cáo là người dưới 18 tuổi (Thời điểm phạm tội ngày 08-5-2018 bị cáo mới chỉ 16 tuổi 06 tháng 17 ngày), sự phát triển về tâm sinh lý chưa hoàn thiện, nên nhận thức về pháp luật, xã hội còn hạn chế; Theo quy định tại Điều 91 BLHS năm 2015 về nguyên tắc xử lý người dưới 18 tuổi pha ̣m tô ̣i: “Việc xử lý người dưới 18 tuổi pha ̣m tô ̣i phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp họ sửa chữa lỗi lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội”, nên Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự 2015 để giảm nhẹ hình phạt và không cần thiết cách ly khỏi xã hội mà cho hưởng án treo cũng đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo, giúp bị cáo sửa chữa sai lầm, tạo điều kiện cho bị cáo trở thành người tốt có ích cho xã hội.

Xét quan điểm của người bào chữa: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo Phạm Đăng H: Bị cáo Phạm Đăng Hải phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi; đã bồi thường thiệt hại, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, chưa có tiền án, tiền sự; tài sản có giá trị không lớn là có căn cứ nên được chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự:

Quá trình điều tra, bị hại Nguyễn Đình Như Y và đại diện hợp pháp của Y đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về phần bồi thường dân sự, nên Hội đồng xét xử không xét;

Xét quan điểm của Viện Kiểm sát về việc định tội và định khung hình phạt đối với bị cáo Phạm Đăng H, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo là hoàn toàn tương xứng với tính chất, mức độ hành vi nguy hiểm cho xã hội, quan điểm về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự là có căn cứ, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 174; các điểm b, i, s, h khoản 1, 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52, Điều 90, Điều 91, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Đăng H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Đăng H 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mƣời hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 18-3-2019).

Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Phạm Đăng H, nếu bị cáo Phạm Đăng H không bị tạm giam về một tội phạm khác.

Giao bị cáo Phạm Đăng H cho Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Về biện pháp tư pháp:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc dép hiệu DDLDS, màu đen có viền xanh theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 17-01-2019 giữa Công an thành phố P và Chi cục thi hành án dân sự thành phố P.

- Về án phí:

Căn cứ vào: Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Phạm Đăng H phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, người đại diện của bị cáo, người bào chữa quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại, người đại diện của bị hại vắng mặt quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

(Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo)

Cỡ chữ