vanban.org

Bản án 19/2019/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Hai Bà Trưng, TP. Hà Nội Tuyên án 29/01/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thu H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt: Nguyễn Thu H 14 ( mười bốn ) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/9/2018. Về biện pháp tư pháp: áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thu H - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thu H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HAI BÀ TRƯNG - TP.HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2019/HS-ST
Ngày: 29 - 01 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lại Nguyệt Ánh

- Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Huyền Nga

Bà Hoàng Thị Bích Diệp

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Huyền Thu - Thư ký Toà án nhân dân quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng - Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Thu Hà - Kiểm sát viên sơ cấp.

Ngày 29 tháng 1 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 04/2019/HSST ngày 04 tháng 1 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2019/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo:

NGUYỄN THU H – sinh năm : 1991;HKTT và chỗ ở: số 82 ngõ K, phường T, quận Đ, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 09/12;Con ông: Nguyễn Văn Đ; Con bà: Nguyễn Thị Thanh T; Tiền án, tiền sự: Không; Danh chỉ bản số: 0404 lập ngày 10/9/2018 tại công an quận Hai Bà Trưng, Hà Nội;Bị bắt ngày 08/9/2018. Hiện đang bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - CATP Hà Nội.

( Có mặt tại phiên tòa )

*Nguyên đơn dân sự:

1.Công ty cổ phần TT AH; Trụ sở: 71 ngõ 73 HC, phường Ô, quận Đ, Hà Nội. Đại diện pháp luật: Ông Nguyễn Xuân T – Tổng giám đốc ; Đại diện ủy quyền: Anh Lê Quang H – 1992 – Quản lý vận hành của CTCP dịch vụ TT

( Vắng mặt tại phiên tòa )

2. Công ty TNHH LA; Trụ sở: 327, 329 THT, phường 13, quận 10, TP. Hồ

Chí Minh; Đại diện pháp luật: Anh Nguyễn Đức L – 1990, Giám đốc công ty.

( Vắng mặt tại phiên tòa )

3. Dương Quốc Y – sinh năm: 1997; Trú tại: 245 HTB, phường Đ, quận B,

Hà Nội.

( Vắng mặt tại phiên tòa )

*Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1.Anh Nguyễn Văn T – sinh năm: 1996; Trú tại: ngõ 94 ĐT, phường Đ, quận H, Hà Nội.

2.Anh Phạm Tiến V – sinh năm: 1990; Trú tại: số 24 ngõ 313 LN, quận H, Hà Nội.

3.Anh Trịnh Viết L – sinh năm: 1997; Trú tại: 55 TM, phường G, quận H, Hà Nội.

4.Anh Phạm Hồng Q – sinh năm: 1978; Trú tại: P603D8, KĐT ĐX, GL, Hà Nội.

5 Anh Nguyễn Nhật Q – sinh năm: 1996; Trú tại: 302B tập thể nhà máy rượu, dốc TL, phường Đ, quận H, Hà Nội.

6. Anh Dương Tuấn A – sinh năm: 1986; Trú tại: số 31 ngõ 91 NPL, phường Ô, quận Đ, Hà Nội.

7. Anh Nguyễn Minh Q – sinh năm: 1991; Trú tại: Số 3 ngách 328/60 NT, phường T, quận T, Hà Nội.

8. Anh Lê Quang H – sinh năm: 1992; Trú tại: số 5a, ngách 435/39 X, BTL, Hà Nội.

( Đều vắng mặt tại phiên tòa )

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có công ăn việc làm ổn định, cần tiền tiêu sài cá nhân nên trong khoảng thời gian từ tháng 4/2018 đến tháng 9/2018 Nguyễn Thu H đã thực hiện hàng loạt các vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Cụ thể các vụ như sau:

Vụ thứ 1: Ngày 11/4/2018 Nguyễn Thu H đã sử dụng điện thoại của Phạm Hoàng S để đăng đơn hàng đến gửi. H đăng đơn lên trang mạng giao hàng nội dung giao bộ tóc giả, nhận hàng tại 48 YP giao đến số 5 tổ 9 phường T,quận LB, ứng số tiền 1.600.000 đồng, liên hệ SĐT: 0964819891. Sau khi đăng đơn hàng, anh Y đã nhận đơn hàng và đi đến 48 YP, quận B, Hà Nội nhận hàng, anh Y ứng số tiền 1.600.000 đồng. Sau đó, H đưa số điện thoại của H cho S để S xác nhận đơn hàng. Anh Y đi đến số 5 tổ 9 phường T, quận LB, Hà Nội gọi điện thoại khách nhận hàng và khách giao hàng thì đều tắt máy không liên lạc được. Sau đó, anh S quay về, trên đường đi đã vứt bộ tóc giả vào thùng rác dọc đường không nhớ vị trị cụ thể. Số tiền chiếm đoạt của anh Y 1.600.000 đồng H cho S 300.000 đồng còn lại H ăn tiêu hết.

Vụ thứ 2: Khoảng 17h ngày 22/8/2018, Nguyễn Thu H liên lạc với LA (hiện không xác định được nhân thân lai lịch) thống nhất về việc LA sẽ đóng vai là khách nhận hàng, khi có người gọi điện đến thì xác nhận đơn hàng. Sau đó H sử dụng ứng dụng giao hàng AH đặt giao hàng là 02 áo phông cộc tay, nhận hàng tại địa chỉ 31 TKC, phường T, quận H, Hà Nội và giao hàng đến 575 HH,quận HK, Hà Nội. Số tiền yêu cầu ứng là 1.200.000 đồng. Sau khi đăng đơn hàng, anh Trịnh Viết L – nhân viên công ty cổ phần dịch vụ TT đã báo nhận đơn hàng trên. Anh L đi đến 31 TKC nhận gói hàng là 02 chiếc áo phông từ H và ứng cho H số tiền 1.200.000 đồng. Sau đó, anh L giao hàng đến 575 HH, quận HK, Hà Nội điện vào số điện thoại của LA, H thì đều tắt máy không liên lạc được. Anh L cầm gói hàng về công ty trình bày lại sự việc. Số tiền chiếm đoạt được của anh L, H mua 01 thẻ cào điện thoại mệnh giá 200.000 đồng cho LA, còn lại H tiêu sài hết.

Cơ quan công an thu giữ: 01 áo phông cộc tay cổ tròn, màu trắng, gắn mác chữ “GUCCI” sau cổ áo, thân áo phía trước có in chữ “Dad” và chữ “Baby”; 01 áo phông cộc tay cổ tròn, màu trắng, gắn mác chữ “GUCCI” sau cổ áo, thân áo phía trước gắn 4 mảnh vải đen có chữ “DOLCE & GABBANA” và 01 mảnh vải màu đỏ hình trái tim.

Vụ thứ 3: Ngày 25/8/2018, Nguyễn Thu H thống nhất với H1, H2 đóng giả là khách nhận hàng. H sử dụng tài khoản vào ứng dụng LALA đặt giao hàng 02 áo phông nữ từ 25 TN, phường TN,quận H, Hà Nội với thông tin người gửi là L1 SĐT: 0924927957 đến 83 ĐT, NK, quận BĐ, Hà Nội, người nhận là MA SĐT: 0924284168, tiền ứng đơn hàng là 1.250.000đ. Sau khi đăng đơn hàng, anh Phạm Hồng Q - nhân viên Công ty TNHH LA đã nhận đơn hàng trên. Anh Q đến nhận hàng và ứng cho H 1.250.000đ. Khi đến địa chỉ trên, anh Q gọi điện cho người nhận và giao thì tắt máy không liên lạc được. Anh Q đã về công ty trình báo sự việc. Số tiền chiếm đoạt được, H chia cho H1, H2 600.000đ còn lại H tiêu sài hết.

Cơ quan công an thu giữ: 01 áo phông cộc tay cổ tròn, màu vàng, gắn mác chữ “Dimarfei” sau cổ áo, thân áo phía trước có in nhiều chữ cái; 01 áo phông cộc tay cổ tròn, màu trắng kẻ ngang màu đỏ.

Vụ thứ 4: Khoảng 13h ngày 27/8/2018, Nguyễn Thu H sử dụng tài khoản ứng dụng giao hàng trên mạng trang AH đặt giao hàng là 5kg quả chery; H tự nghĩ ra giá trị đơn hàng là 4.500.000 đồng và tên người giao hàng là M, số điện thoại 01694152711; nơi nhận số 9 ngõ Q, phường QM, quận H, Hà Nội; giao đến chung cư K2 CD, NTL, Hà Nội, số điện thoại người nhận là 0929709384. H thống nhất với H1 giả là người nhận hàng, khi H giao hàng và nhận tiền ứng thì shipep sẽ gọi điện cho người nhận hàng xác nhận có đúng là người nhận hàng không, H1 sẽ nghe máy và nói đúng để shipper tin tưởng. H dùng 02 vỏ chai nước, 1 chai nhãn hiệu Fuzetea, 1 chai nhãn hiệu Danasi rồi đổ nước lã vào 2 chai này đóng nắp lại và 01 ga trải giường màu trắng đã cũ cho vào 01 thùng giấy dán băng dính kín lại đồng thời tự ghi 01 hóa đơn bán lẻ ghi thông tin thùng hàng là 5kg chery và thông tin người nhận kèm số điện thoại và địa chỉ nhận hàng đã chuẩn bị từ trước. Sau khi đăng bài lên trang giao hàng thì anh Nguyễn Văn T - nhân viên công ty cổ phần dịch vụ TT nhận đơn hàng trên và anh T ứng cho H số tiền 4.500.000 đồng tiền giá trị đơn hàng. Sau đó anh T gọi điện vào số điện thoại người nhận hàng là 0929709384 hỏi xem có ở nhà không để giao hàng thì H1 nghe máy và nói là có nhà. Anh T nhận hàng rồi đi đến khu chung cư K2 CD gọi điện lại thì H1 không nghe máy, gọi điện cho H nhưng H không nghe máy. Biết bị lừa nên anh T mang hàng về công ty trình bày sự việc, tại đây mở hộp giấy ra thấy bên trong có 02 chai nước đã bóc nilon ở nắp, 01 ga trải giường màu trắng đã cũ. Số tiền chiếm đoạt được của anh T là 4.500.000 đồng, H chia cho H2, H1 2.000.000 đồng, còn lại H tiêu sài hết.

Cơ quan công an thu giữ: 02 chai nhựa đựng nước và 01 ga trải giường màu trắng đã cũ do anh T giao nộp.

Vụ thứ 5: Ngày 27/8/2018, Nguyễn Thu H mua 01 kg chery để trong 1 hộp giấy, 1 hộp giấy để không, sau đó cho cả 2 hộp giấy có chữ chery vào trong 1 hộp. Sau đó đăng đơn giao hàng lên trang AH với thông tin người gửi hàng SĐT: 01694152711 tại địa chỉ ngõ Q, HBT, Hà Nội; hàng giao là 2kg quả chery, số tiền ứng là 3.600.000 đồng; người nhận hàng là H, SĐT: 0969542568 địa chỉ: 95 TT, HM, Hà Nội. Sau khi đăng đơn hàng, anh Phạm Tiến V - nhân viên công ty công ty cổ phần dịch vụ TT nhận đơn hàng trên và ứng cho H số tiền 3.540.000 đồng. Sau đó, anh V đi đến địa chỉ 95 TT gọi điện cho người nhận hàng nhưng không nghe máy, gọi lại cho H thì tắt máy. Biết bị lừa nên anh V mang hàng về công ty, tại đây mở hộp giấy ra thấy bên trong có 02 hộp giấy có chữ cherry, 1 hộp bên trong có quả chery, 1 hộp không có gì. Số tiền chiếm đoạt được của anh V, H chia cho H2, H1 1.000.000 đồng, còn lại H tiêu sài hết.

Cơ quan công an thu giữ: 02 hộp giấy có chữ Chery và 01 kg quả chery do anh V giao nộp.

Vụ thứ 6: Ngày 04/9/2018 H đang ở nhà nghỉ NH1 thống nhất với H1, H2 về việc giả là khách nhận hàng. H đăng đơn giao hàng lên trang AH với thông tin người gửi hàng số điện thoại: 0969733785 tại địa chỉ 149 ngõ Q, HBT, Hà Nội; hàng giao là 01 áo phông nữ và 01 đôi giày trẻ em, số tiền ứng là 950.000đ; người nhận hàng có SĐT: 0927302822 tại địa chỉ: 226 TS,quận Đ, Hà Nội. Sau khi đăng đơn hàng, anh Nguyễn Nhật Q - nhân viên công ty cổ phần dịch vụ TT nhận đơn hàng trên và ứng cho H số tiền 950.000 đồng. Anh Q đi đến số 226 TS, quận Đ, Hà Nội giao hàng gọi điện H1 nghe máy nói đợi 5 phút. Anh Q đợi khoảng 15 phút gọi điện lại thì thấy tắt máy, anh Q gọi lại vào số điện thoại của H cũng không liên lạc được. Sau đó anh Q đi về nhà nghỉ NH1 tìm gặp H thì anh Vàng Văn D - nhân viên nhà nghỉ nói H đã trả phòng đi khỏi đây; anh Q mở gói hàng bọc nilon màu đen ra thì thấy bên trong là chiếc khăn tắm cũ, anh Q vứt lại chiếc khăn tắm này cùng đôi giày trẻ em lại nhà nghỉ và sau đó đến cơ quan công an trình báo. Số tiền chiếm đoạt được, H chia cho H2, H1 400.000 đồng còn lại H tiêu sài hết.

Cơ quan công an thu giữ: 01 khăn tắm màu trắng đã cũ do anh Vàng Văn D giao nộp còn đôi giày trẻ em không tìm thấy.

Vụ thứ 7: khoảng 11h30’ ngày 06/9/2018 Nguyễn Thu H tiếp tục đặt đơn giao hàng qua ứng dụng giao hàng AH với nội dung đơn hàng là 30 chiếc bánh nướng. Nhận hàng từ địa chỉ CT, quận Đ, Hà Nội đến địa điểm giao là 2A, TS phường Q, quận Đ, Hà Nội, trị giá đơn hàng là 3.500.000 đồng. H dùng 01 hộp giấy nhỏ bên trong để các mảnh bê tông vụn sau đó dán kín giả là 30 chiếc bánh nướng. Khi thông tin đơn hàng được đăng thì trên hệ thống cảnh báo có khả năng lừa đảo nên anh Dương TA (SN: 1986, trú tại: số 31 ngõ 91 NPL, P. Ô, Q. Đ, Hà Nội) vẫn nhận đơn hàng và cùng anh Nguyễn Minh Q, anh Lê Quang H đi đến địa chỉ CT, phường T, quận Đ, Hà Nội để nhận hàng; khi Nguyễn Thu H cầm 1 túi đồ đi ra nên anh TA giữ lại và đưa đến Cơ quan Công an để giải quyết.

Cơ quan công an thu giữ: 01 túi nilon đựng 05 hộp bìa cattong bên trong đựng các mảnh bê tông vụn, 1 hóa đơn bán lẻ.

Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận H ra yêu cầu định giá tài sản. Ngày 26/11/2018, Hội đồng định giá tài sản trong TTHS quận Hai Bà Trưng kết luận:

Tài sản thu hồi được:

- 5 hộp bìa cattong bên trong có đựng các mảnh bê tông vụn: 0 đồng

- 01 áo phông cộc tay cổ tròn, màu trắng, gắn mác chữ “GUCCI” sau cổ áo, thân áo phía trước có in chữ “Dad” và chữ “Baby”, áo chưa qua sử dụng: 120.000 đồng.

- 01 áo phông cộc tay cổ tròn, màu trắng, gắn mác chữ “GUCCI” sau cổ áo, thân áo phía trước gắn 4 mảnh vải đen có chữ “DOLCE & GABBANA” và 01 mảnh vải màu đỏ hình trái tim, áo chưa qua sử dụng: 120.000 đồng

- 01 áo phông cộc tay cổ tròn, màu vàng, gắn mác chữ Dimafei sau cổ áo, thân áo, phía trước có in nhiều chữ cái, áo chưa qua sử dụng: 120.000 đồng

- 01 áo phông cộc tay cổ tròn, màu trắng kẻ ngang màu đỏ, áo chưa qua sử dụng: 120.000 đồng

- 01 Ga trải giường màu trắng, kích thước 170cmx110cm x 10cm, đã qua sử dụng: 80.000 đồng

- 01 khăn tắm màu trắng, kích thước 100cm x 60cm, đã qua sử dụng: 10.000 đồng.

- 01 chai nước ngọt nhãn hiệu Fuzetea, dung tích 350ml, bên trong chứa nước, phần nắp chai đã bóc nilon: 0 đồng;

- 01 chai vỏ nhựa nhãn hiệu Danasi, dung tích 500ml, bên trong chứa nước, phần nắp chai đã bóc nilon: 0 đồng;

- 2 hộp giấy có nhãn hiệu Reid Fruis, bên trong có 01 kg quả chery: 480.000 đồng.

Tổng số tiền là 1.050.000 đồng

Tài sản không thu hồi được, không giám định được tài sản: 01 bộ tóc giả, màu đen, đã qua sử dụng; 01 đôi giày màu đen trẻ em.

Anh Lê Quang H - đại diện cho Công ty CP Dịch vụ TT (AH) trình báo và yêu cầu bồi thường số tiền là 10.190.000 đồng.

Anh Nguyễn Đức L - đại diện Công ty TNHH LALA trình báo và yêu cầu bồi thường 1.250.000 đồng.

Anh Dương Quốc Y có đơn trình báo Cơ quan công an và yêu cầu bồi thường 1.600.000 đồng.

Tại cơ quan công an, Nguyễn Thu H đã khai nhận toàn hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản như trên. Đối với hàng hóa H sử dụng làm đơn đặt giao hàng, ngoài 04 chiếc áo phông mua mới giá rẻ còn lại như ga trải giường, khăn tắm, giày trẻ em, bộ tóc giả thì H đều mang từ nhà đi. Tổng số tiền Nguyễn Thu H và đồng bọn chiếm đoạt được trong 07 vụ trên là: 16.540.000đ. Đối với H1, H2, LA tham gia cùng H thực hiện các vụ lừa đảo trên, H chỉ nghe nói H1 ở 74 ĐT, quận H, Hà Nội chứ chưa đến lần nào, không biết nhân thân, lai lịch cụ thể. H2 và LA thì không biết cụ thể ở đâu, nhân thân lai lịch ra sao. H mua nhiều sim điện thoại dùng để đăng thông tin người giao hàng và đưa cho LA, H2, H1 nghe điện thoại khi người nhận hàng gọi với để những người nhận đơn giao hàng tin tưởng. Sau khi gọi điện và nghe điện xong, H cùng đồng bọn vứt bỏ hết các sim điện thoại trên.

Tại cơ quan công an, Phạm Hoàng S khai nhận: Do S làm nghề xe ôm nên khoảng tháng 4/2018, H thuê anh S chở đến phố YP, phường N, Q. B, Hà Nội. Sau đó, S đợi ở ngoài đường, H đi bộ vào trong một cửa hàng (S không nhớ địa chỉ); khoảng 20 phút sau, H quay ra bảo S cho mượn điện thoại để gọi điện do điện thoại của H hết tiền. Lúc sau, có một người đàn ông đi đến nơi H và S đang đứng, H đưa cho người đàn ông này 1 bộ tóc giả. Sau đó, H bảo S chở về ngõ chợ K, Hà Nội, S không biết, không liên quan hành vi phạm tội của H.

Cơ quan điều tra tiến hành cho H và S đối chất. Tuy nhiên, H và S từ chối đối chất và giữ nguyên lời khai của mình.

Quá trình điều tra, không xác định có ai tên là H1 ở 74 ĐT, phường V,quận H, Hà Nội. Cơ quan điều tra cũng không xác định được các đối tượng H1, H2, LA cùng Nguyễn Thu H tham gia lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Tại cáo trạng số 19/CT-VKS ngày 02/1/2019, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội đã truy tố Nguyễn Thu H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Điều 174 khoản 1 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa,

Bị cáo khai nhận tội như nội dung cáo trạng đã nêu. Bị cáo thừa nhận: Trong các ngày 11/4/2018, 22/8/2018, 25/8/2018 và 27/8/2018 tại quận Hai Bà Trưng và ngày 04/9/2018 tại quận Ba Đình, Hà Nội, bị cáo đã có hành vi lừa đảo những người giao hàng của công ty AH, Công ty LALA, anh Dương Quốc Y tổng số tiền là 16.540.000 đồng. Bị cáo nhận tội và xin được giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất vụ án, một lần nữa khẳng định việc truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 174 khoản 1; Điều 51 khoản 1 điểm b,s; Điều 52 khoản 1 điểm g BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt: Nguyễn Thu H với mức án từ 18 đến 24 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về bồi thường dân sự: Nguyên đơn dân sự và những người bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì nên không xét.

Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy số tang vật không còn giá trị sử dụng: 05 ( năm ) hộp bằng bìa cattong bên trong có đựng các mảnh bê tông vụn; 01 ( một ) ga trải giường màu trắng, kích thước 170cm x 110cm x 10cm đã qua sử dụng; 01 ( một ) khăn mặt màu trắng, kích thước 100cm x 60cm đã qua sử dụng; 01 ( một ) chai nước vỏ nhựa nhãn hiệu Danasi, dung tích 500ml, bên trong có chứa nước, phần nắp chai đã bóc nilon; 01 ( một ) chai nước ngọt nhãn hiệu Fuzetea, dung tích 350ml, bên trong có chứa nước, phần nắp chai đã bóc nilon; 02 ( hai ) hộp giấy có nhãn hiệu Reid Fruits.

Tịch thu sung công số tài sản chưa qua sử dụng: 01 ( một ) chiếc áo phông cột tay cổ tròn, màu trắng, gắn mác chữ Gucci sau cổ áo, thân áo phía trước có in chữ Dad và chữ Baby, áo chưa qua sử dụng; 01 ( một ) áo phông cộc tay cổ tròn, màu trắng, gắn mác chữ Gucci & Gabbana và 01 mảnh vải màu đỏ hình trái tim, áo chưa qua sử dụng; 01 ( một ) áo phông cộc tay cổ tròn, màu vàng, gắn mác chữ Dimarfei sau cổ áo, thân áo phía trước có in nhiều chữ cái, áo chưa qua sử dụng; 01 ( một ) áo phông cộc tay cổ tròn, màu trắng kẻ ngang màu đỏ, áo chưa qua sử dụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Các cơ quan tiến hành tố tụng của quận Hai Bà Trưng thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về thẩm quyền và các quy định khác về điều tra, truy tố và xét xử.

Về hành vi và tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo và các tài liệu, chứng cứ khác tại cơ quan điều tra. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Trong các ngày 11/4/2018, 22/8/2018, 25/8/2018 và 27/8/2018 tại quận Hai Bà Trưng và ngày 04/9/2018 tại quận Ba Đình, Hà Nội, bị cáo đã có hành vi gian dối đối với công ty cổ phần dịch vụ TT ( AH ), Công ty TNHH LALA thông qua những người giao hàng của các công ty này và anh Dương Quốc Y với tổng số tiền đã lừa đảo được là 16.540.000 đồng.Hành vi của bị cáo đã phạm tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015.

Về nhân thân, tiền án, tiền sự và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:

Trong khoảng thời gian từ tháng 4/2018 đến tháng 9/2018 bị cáo đã liên tục 07 lần thực hiện hành vi lừa đảo những người giao hàng để chiếm đoạt tài sản. Trong đó có 03 lần bị cáo phạm tội giá trị tài sản trên 2.000.000 đồng. Nên phải áp dụng tình tiết tăng nặng đối với bị cáo phạm tội nhiều lần quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xét nhân thân bị cáo không có tiền án tiền sự gì, lần đầu tiên bị đưa ra xét xử. Bị cáo đã kịp thời khắc phục hậu quả bồi thường toàn bộ cho những nguyên đơn dân sự và người bị hại. Tại phiên tòa hôm nay cũng như tại cơ quan điều tra bị cáo đã thành khẩn khai nhận tội. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về hình phạt:

Hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của của công dân được pháp luật bảo vệ, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội. Chỉ trong một thời gian ngắn bị cáo đã cùng các đối tượng H1, H2, LA thực hiện hàng loạt các vụ lừa đảo công ty giao hàng qua mạng và những người giao hàng với thủ đoạn khá tinh vi, cụ thể bị cáo cho hàng có giá trị thấp, hàng không có giá trị hoặc đất đá vào hộp cattong. Sau đó bị cáo đặt trên các trang mạng giao hàng với nội dung cần giao hàng đến địa chỉ có số điện thoại kèm theo của người nhận hàng và yêu cầu những người giao hàng ứng trước tiền hàng. Bị cáo là người trực tiếp giao hàng cho những người giao hàng và nhận tiền ứng trước của những người giao hàng. Bị cáo thỏa thuận với những người giao hàng đi đưa hàng nhận lại tiền đã ứng từ khách nhận hàng và tiền phí vận chuyển . Để tránh những người giao hàng phát hiện khi nhận ra mình bị lừa, bị cáo thường chọn địa điểm nhận hàng là ở đầu ngõ, ngoài đường chứ không ở địa chỉ cố định với mục đích khi những người giao hàng phát hiện ra bị lừa cũng không biết tìm bị cáo ở đâu. Bị cáo còn mua nhiều sim điện thoại khác nhau đưa cho các đối tượng H1, H2, LA là những đối tượng không rõ nhân thân lai lịch để đóng vai khách nhận hàng. Khi những người giao hàng đến nhận hàng từ bị cáo sẽ gọi điện vào số điện thoại của người nhận để xác định đơn hàng cần giao và trả số tiền vận chuyển đã ứng thì các đối tượng này sẽ khẳng định đúng là khách nhận hàng tăng độ tin tưởng cho những người giao hàng. Khi những người giao hàng cầm hàng đến địa chỉ ( đều là những địa chỉ giả do bị cáo tự nghĩ ra) cần giao thì bị cáo và những đối tượng nêu trên sẽ tắt máy và những người giao hàng không biết địa chỉ đâu mà tìm. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng do lười lao động vẫn cố tình phạm tội. Do đó, cần áp dụng hình phạt tù nghiêm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Về hình phạt bổ sung: xét trong trường hợp này bị cáo không nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên miễn phạt tiền.

Về biện pháp tư pháp: cần áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015:

Tịch thu tiêu hủy số tang vật không còn giá trị sử dụng: 05 ( năm ) hộp bằng bìa cattong bên trong có đựng các mảnh bê tông vụn; 01 ( một ) ga trải giường màu trắng, kích thước 170cm x 110cm x 10cm đã qua sử dụng; 01 ( một ) khăn mặt màu trắng, kích thước 100cm x 60cm đã qua sử dụng; 01 ( một ) chai nước vỏ nhựa nhãn hiệu Danasi, dung tích 500ml, bên trong có chứa nước, phần nắp chai đã bóc nilon; 01 ( một ) chai nước ngọt nhãn hiệu Fuzetea, dung tích 350ml, bên trong có chứa nước, phần nắp chai đã bóc nilon; 02 ( hai ) hộp giấy có nhãn hiệu Reid Fruits. Đối với 01 kg quả cherry bị cáo đồng ý bồi thường cho anh Phạm Tiến V, anh V đã nhận 01 kg quả cherry.

Tịch thu sung công số tài sản chưa qua sử dụng: 01 ( một ) chiếc áo phông cột tay cổ tròn, màu trắng, gắn mác chữ Gucci sau cổ áo, thân áo phía trước có in chữ Dad và chữ Baby, áo chưa qua sử dụng; 01 ( một ) áo phông cộc tay cổ tròn, màu trắng, gắn mác chữ Gucci & Gabbana và 01 mảnh vải màu đỏ hình trái tim, áo chưa qua sử dụng; 01 ( một ) áo phông cộc tay cổ tròn, màu vàng, gắn mác chữ Dimarfei sau cổ áo, thân áo phía trước có in nhiều chữ cái, áo chưa qua sử dụng; 01 ( một ) áo phông cộc tay cổ tròn, màu trắng kẻ ngang màu đỏ, áo chưa qua sử dụng.

Về bồi thường dân sự và các vấn đề khác:

Bị cáo đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho nguyên đơn dân sự, người bị hại. Nguyên đơn dân sự, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu gì về bồi thường dân sự nên Tòa án không xét.

Đối với Phạm Hoàng S cơ quan điều tra đã yêu cầu S và bị cáo đối chất nhưng cả hai đều tự chối. Các tài liệu trong hồ sơ không đủ cơ sở kết luận đối tượng S đồng phạm với bị cáo trong vụ việc xảy ra ngày 11/4/2018.

Đối với các đối tượng H1, H2, LA. Quá đình điều tra, H khai không biết nhân thân lai lịch nên không có căn cứ xác minh. Do vậy, ngày 7/12/2018 Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Hai Bà Trưng đã ra Quyết định tách tài liệu số 31/ĐTTH ngày 05 tháng 12 năm 2018 liên quan đến hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của H1, H2, LA để tiếp tục xác minh làm rõ.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, nguyên đơn dân sự, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào: Điều 174 khoản 1; Điều 51 khoản 1 điểm b,s; Điều 52 khoản 1 điểm g Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thu H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt: Nguyễn Thu H 14 ( mười bốn ) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/9/2018.

Về biện pháp tư pháp: áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015:

Tịch thu tiêu hủy số tang vật không còn giá trị sử dụng: 05 ( năm ) hộp bằng bìa cattong bên trong có đựng các mảnh bê tông vụn; 01 ( một ) ga trải giường màu trắng, kích thước 170cm x 110cm x 10cm đã qua sử dụng; 01 ( một ) khăn vải màu trắng, kích thước 100cm x 60cm đã qua sử dụng; 01 ( một ) chai nước vỏ nhựa nhãn hiệu Danasi, dung tích 500ml, bên trong có chứa nước, phần nắp chai đã bóc nilon; 01 ( một ) chai nước ngọt nhãn hiệu Fuzetea, dung tích 350ml, bên trong có chứa nước, phần nắp chai đã bóc nilon; 02 ( hai ) hộp giấy có nhãn hiệu Reid Fruits.

Tịch thu sung công số tài sản chưa qua sử dụng: 01 ( một ) chiếc áo phông cột tay cổ tròn, màu trắng, gắn mác chữ Gucci sau cổ áo, thân áo phía trước có in chữ Dad và chữ Baby, áo chưa qua sử dụng; 01 ( một ) áo phông cộc tay màu trắng có nhãn hiệu Gucci tại cổ áo phía trước có thêu logo màu đen, đỏ ghi chữ: Dolce & Gabbana, made in Italy và 01 mảnh vải màu đỏ hình trái tim, áo chưa qua sử dụng; 01 ( một ) áo phông cộc tay cổ tròn, màu vàng, gắn mác chữ Dimarfei sau cổ áo, thân áo phía trước có in nhiều chữ cái, áo chưa qua sử dụng; 01 ( một ) áo phông cộc tay cổ tròn, màu trắng kẻ ngang màu đỏ, áo chưa qua sử dụng.

( Biên bản giao nhận tang vật, vật chứng ngày 03 tháng 1 năm 2019, tang vật số 91/19 của Chi cục thi hành dân sự quận Hai Bà Trưng, Hà Nội ).

- Căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331 khoản 1; Điều 332 và Điều 333; Điều 336; Điều 337 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Điều 21 khoản 1 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án cùng danh mục kèm theo.

Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị trong hạn 15 ngày, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên có quyền kháng nghị trong hạn 30 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nguyên đơn dân sự, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ