- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Cường Q - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điể m h khoản 1 Điề u 52; khoản 2 Điề u 56; khoản 5 Điề u 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2019/HS-ST Ngày 25 - 7 - 2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆTNAM
TÒA ÁN DÂN NHÂN HUYỆN B, TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thế Doanh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đinh Văn Tuyề n
Ông Đinh Đăng Hù ng
- Thƣ ký phiên toà: Ông Nguyễ n Văn Xuân - Thư ký Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B tham gia phiên toà: Bà Bàn Thị Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 25/7/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 20/2019/TLST - HS ngày 18/6/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2019/QĐXXST - HS ngày 12/7/2019 đối với bị cáo:
Vũ Cường Q (tên gọi khác: không) - Sinh ngày 07 tháng 4 năm 1995 tại huyệ n B, tỉnh Bắc Kạn; nơi đăng ký hộ khẩ u thườ ng trú và chỗ ở: Thôn N, xã C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao độ ng tự do ; trình độ văn hoá: Lớp 9/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Thanh V và bà Vương Thị X; vợ là Hứa Thị H; con: Có 01 con; tiền án: 01 - Tại bản án hình sự sơ thẩm số 05/2018/HSST ngày 20/3/2018 của Tòa án nhân dân thà nh phố B bị cáo bị xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tộ i “Trộ m cắ p tà i sản”. Thờ i gian thử thá ch là 18 (mườ i tá m) tháng, tính từ ngày tuyên á n sơ thẩ m; tiền sự: Không.
Bị cáo đang bị áp dụ ng biệ n phá p ngăn chặ n “Cấm đi khỏi nơi cư trú ” - Có mặt.
- Bị hại: Ông Lương Văn Ph - Sinh năm 1973; Nơi cư trú : Thôn K, xã N, huyệ n B, tỉnh Bắc Kạn - Có mặ t.
- Ngườ i có quyề n lợ i, nghĩa vụ liên quan: Chị Vũ Thị H - Sinh năm 1982; nơi cư trú: Thôn N, xã C, huyệ n B, tỉnh Bắc Kạn - Vắ ng mặ t (có đơn xin xét xử vắ ng mặ t).
- Ngườ i là m chứ ng : Bà Vương Thị X - Sinh năm 1968; nơi cư trú : Thôn N, xã C, huyệ n B, tỉnh Bắc Kạn - Vắ ng mặ t (có đơn xin xé t xử vắ ng mặ t).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 8 giờ 15 phút ngày 18/10/2018, Vũ Cường Q (sinh năm 1995; trú tại: Thôn N, xã C, huyệ n B, tỉnh Bắc Kạn ) tỉnh dậy và đi ra bể nước của gia đì nh để đá nh răng , rử a mặ t thì nhì n thấ y chiếc xe mô tô nhã n hiệ u SYM Angel 100 biể n kiể m soá t 97F3 - 2957 của ông Lương Văn Ph (sinh năm 1973; trú tại thôn K, xã N, huyệ n B, tỉnh Bắc Kạn) để góc sân nhà Q, chìa khóa xe vẫ n cắ m ở ổ khóa điệ n (ông Ph để xe mô tô tại sân nhà Q và không nhờ ai trong gia đì nh Q trông coi, quản lý ) nên Q nảy sinh ý đị nh trộ m cắ p chiế c xe mô tô nà y. Sau khi đá nh răng, rửa mặt xong, Q đi ra chỗ để xe mô tô nổ máy và lái ra khỏi nhà. Khi đó mẹ Q là bà Vương Thị X hỏi: “đi đâu đấ y?”, Q đá p: “con đi xuố ng dướ i nà y mộ t tí ”, bà X nói: “không đượ c lấ y xe đi” nhưng Q vẫ n chạ y xe ra khỏ i nhà và đi đến nhà chị Vũ Thị H (sinh năm 1982; trú tại: Thôn N, xã C, huyệ n B) hỏi vay số tiề n 400.000đ và nói vớ i H để lại chiếc xe mô tô biển kiể m soá t 97F3 - 2957 làm tin. Do không có đủ tiề n nên ch ị H chỉ đồ ng ý cho Q vay số tiề n 200.000đ (hai trăm nghì n đồ ng ). Nhận tiề n xong , Q đi bộ đến nhà anh Nguyễn Trung K (sinh năm 1980; trú tại thôn N , xã C, huyệ n B) hỏi vay số tiề n 200.000đ (hai trăm nghì n đồ ng) và được K đồ ng ý . Sau đó , Q quay lại nhà chị H hỏi vay thêm 20.000đ (hai mươi nghì n đồ ng) tiề n lẻ để đi xe buý t. H đồ ng ý cho Q vay thêm 20.000đ (hai mươi nghì n đồ ng ). Sau đó , Q ra đườ n g Quố c lộ 3 bắ t xe buý t xuống thà nh phố B chi tiêu hế t số tiề n vay đượ c.
Tại Kết luận định giá tài sản số 03/KL - ĐGTS ngà y 29/01/2019 của Hội đồ ng đị nh giá tài sản huyện B kế t luậ n: “Tại thời điểm tháng 10/2018, xe mô tô nhãn hệu SYM Ang el 100 xe cũ đã qua sử dụ ng có giá là 2.000.000 đồ ng (hai triệ u đồ ng)”.
Tại bản cáo trạng số 20/CT-VKS-BT ngày 17/6/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bạch Thông quyết định truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện B để xét xử đối với Vũ Cường Q về tội "Trộ m cắ p tà i sả n " theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX):
- Tuyên bố bị cáo phạm tộ i “Trộ m cắ p tà i sả n”;
- Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điể m h khoản 1 Điề u 52; khoản 2 Điề u 56; khoản 5 Điề u 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Buộ c bị cá o phả i chấ p hà nh hình phạt 09 (chín) tháng tù của bản án số 05/2018/HS-ST ngày 20/3/2018 của Tòa án nhân thà nh phố Bắ c Kạ n và buộ c bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bả n á n.
- Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, ngườ i có quyề n lợ i, nghĩa vụ liên quan đã nhậ n lạ i số tà i sả n và không yêu cầ u bồ i thườ ng gì thêm nên không đề nghị xem xét.
- Về vật chứng: Không có nên không đề nghị xem xé t.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, xin giảm nhẹ hình phạt. Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không yêu cầ u bồ i thườ ng gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dụng vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
. Về hành vi và quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi trộm cắ p tài sản như bản cáo trạng truy tố . Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp vớ i lờ i khai củ a bị hạ i, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ để khẳng định: Hồ i 08 giờ 15 phút ngày 18/10/2018, tại nhà của Vương Thị X thuộ c thôn N, xã C, huyệ n B, tỉnh Bắc Kạn, Vũ Cườ ng Q đã có hà nh vi lén lút chiế m đoạ t 01 (mộ t) chiếc xe mô tô nhãn hiệu SYM Angel 100 biể n kiể m soát 97F3 - 2957 có giá 2.000.000đ (hai triệ u đồ ng) của ông Lương Văn Ph.
Hành vi của bị cáo được thực hiện khi bị cáo đã có đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyề n sở hữ u tà i sả n củ a cá nhân đượ c phá p luậ t bả o vệ
, gây mấ t trậ t tự trị an tại địa phương. Cáo trạng số 20/CT-VKS-BT ngày 17/6/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B Thông truy tố Vũ Cường Q về tội “Trộ m cắ p tà i sả n” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội.
Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 có nội dung:
"1. Người nào trộ m cắ p tà i sả n củ a ngườ i khá c trị giá từ 2.000.000 đồ ng đến dưới 50.000.000 đồ ng hoặ c dướ i 2.000.000 đồ ng nhưng thuộ c mộ t trong các trường hợp sau đây , thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặ c phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
……………………………………………………………………………………….
5. Ngườ i phạ m tộ i cò n có thể bị phạ t tiề n từ
5.000.000 đồ ng đế n 50.000.000 đồ ng”.
. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo thấy: Bị cáo có nhân thân xấu - Đã từ ng bị kết án về tội trộm cắp tài sản; quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, bồ i thườ ng thiệ t hại cho người có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan , bị hại xin giảm nhẹ hình p hạt nên được hưởng ba tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo phải chịu một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tá i phạ m” quy đị nh tạ i điể m h khoả n 1 Điề u 52 của Bộ luậ t Hì nh sự năm 2015.
Xét tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo gây ra đối với xã hội, xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy cần buộc bị cáo đi cải tạo tại cơ sở giam giữ mới đảm bảo tính giáo dục cho bị cáo và tính răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội. Vì vậy, mức hình phạt do Kiểm sát viên đề nghị tại phiên tòa là phù hợp, cần chấp nhận.
Bị cáo thực hiện hành vi trộm cắ p tà i sả n trong thờ i gian đang chấ p hà nh thờ i gian thử thách của án treo tại bản án số 05/2018/HS-ST ngà y 20/3/2018 của Tòa án nhân dân thành phố B . Do đó , cầ n buộ c bị cá o phải chấ p hà nh hì nh phạ t 09 tháng tù của bản án số 05/2018/HSST củ a Tò a á n nhân dân thà nh phố B và buộ c bị cá o phả i chấ p hà nh hì nh phạ t chung củ a cả hai bả n á n theo khoả n 2 Điề u 56 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Về hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015: Xét thấy bị cáo là người lao độ ng tự do , thu nhậ p không ổ n đị nh, không có tà i sả n riêng nên không có khả năng thi hành. Vì vậy, HĐXX không áp dụng.
Đối với chị Vũ Thị H là người đã cho Q vay số tiề n 220.000đ khi Q để lại chiế c xe mô tô làm tin. Bản thân H không biế t đây là tài sản do Q trộ m cắ p mà có nên Cơ quan Cả nh sá t điề u tra (CQCSĐT) không xem xé t xử lý H là đúng quy đị nh.
Đối với anh Nguyễ n Trung K cho Vũ Cường Q vay số tiề n 200.000đ nhưng không liên quan đế n hà nh vi phạ m tộ i củ a Q nên CQCSĐT không xử lý K là đúng quy định.
Đối với bà Vương Thị X là người biết việc Q lấ y xe mô tô củ a ông Ph đi, sau đó bà X nói cho ông Ph biế t nhưng bà X không biế t mụ c đí ch củ a Q lấ y xe đi đâu, làm gì nên CQCSĐT không xem xé t trá ch nhiệ m củ a bà X là đúng quy đị nh củ a phá p luậ t.
. Về trá ch nhiệ m dân sự : CQCSĐT đã thu giữ và trả lại chiế c xe mô tô cho bị hạ i . Quá trình điề u tra và tại phiên t òa, bị hại không có yêu cầ u bồ i thườ ng. Ngày 01/4/2019, Quố c trả lại cho chị H số tiề n đã vay là 220.000đ, chị Hằ ng không yêu cầ u gì thêm nên HĐXX không xem xé t.
. Về vật chứng của vụ án: Chiế c xe mô tô nhã n hiệ u SYM Ang el 100 biể n kiể m soá t 97F3 - 2957 đã trả lạ i cho bị hạ i.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điể m h khoản 1 Điề u 52; khoản 2 Điề u 56; khoản 5 Điề u 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tuyên bố bị cáo Vũ Cường Q phạm: “Tội trộ m cắ p tà i sả n”.
Xử phạt bị cáo Vũ Cườ ng Q 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi chấp hành án.
Buộ c Vũ Cườ ng Q phải chấp hành hình phạt 09 (chín) tháng tù của bản án số 05/2018/HS - ST ngà y 20/3/2018 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bắc Kạn.
Buộc Vũ Cường Q phải chấp hành hình phạt c hung củ a cả hai bả n á n là 18 (mườ i tá m) tháng tù. Thờ i hạ n tù tính từ ngà y bắ t đi chấ p hà nh á n.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luậ t Tố tụ ng hì nh sự ; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14: Bị cáo Vũ Cường Q phải chịu 200.000đ (hai trăm nghì n đồ ng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự; người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ngườ i có quyề n lợ i, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngà y nhậ n đượ c bả n á n hoặ c kể từ ngày bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện B; - VKSND tỉnh Bắc Kạn; - Công an huyện B; - Bị cáo; bị hại; đương sự ; - Chi cục THADS huyện B; - Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn; - Lưu hồ sơ; văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨ M PHÁ N - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thế Doanh |