- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "vụ án xin ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ vợ chồng: Xử cho chị Nguyễn Thị Ph được ly hôn anh Phạm Bá Ch.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19 /2019/HNGĐ-ST Ngày 20-5-2019 V/v ly hôn và tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Văn Vinh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Tâm
- Bà Tạ Thị Thủy
-Thư ký phiên toà: Ông Vũ Viết Hoàn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 195/2018/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 7 năm 2018 về “ly hôn và tranh chấp nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2019/QĐXXST - HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2019/QĐST–HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2019 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ph; trú tại: Cụm 6, G Ph, xã T H, huyện V B, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt.
Bị đơn: Anh Phạm Bá Ch; trú tại: Thôn Ph Tr 2, xã H T, huyện V B, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ph trình bày: Chị và anh Phạm Bá Ch kết hôn với nhau tự nguyện tại Uỷ ban nhân dân xã Hùng Tiến, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng vào ngày 28-8-2002. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hoà thuận, hạnh phúc được khoảng 05 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau, anh Ch thường xuyên rượu chè không quan tâm đến cuộc sống gia đình. Mâu thuẫn của vợ chồng đã được hai bên gia đình khuyên giải, động viên nhiều lần nhưng không có kết quả. Do mâu thuẫn vợ chồng nên chị đã về nhà bố mẹ đẻ sống từ năm 2017, vợ chồng sống ly thân với nhau từ đó đến nay, không quan tâm đến nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn được, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phạm Bá Ch.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con Ch là Phạm Bá Đạt, sinh ngày 08-5-2003 và Phạm Ngọc Minh, sinh ngày 19-6-2008. Trường hợp ly hôn, chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con Ch. Về cấp dưỡng nuôi con chị xin tự giải quyết với anh Ch.
Về tài sản chung: Vợ chồng xây dựng được 01 ngôi nhà có diện tích khoảng 60 m2 trên diện tích đất của ông Phạm Bá Cảnh và bà Vũ Thị Hiền tại thôn Phương Trì 2, xã Hùng Tiến, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng (chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Tài sản trong nhà gồm có: tivi, tủ lạnh, đầu lọc máy, bàn ghế, máy điều hòa, bình nóng lạnh, 01 xe nhãn hiệu honda SH, 01 xe dream, 01 xe Wave. Tổng giá trị tài sản khoảng 300.000.000 đồng.
Về nợ chung: Vợ chồng có các khoản nợ chung sau:
- Nợ anh Nguyễn Văn Điện; nơi cư trú: Thôn Xuân Hùng, xã Hùng Tiến, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng số tiền là 60.000.000 đồng.
- Nợ anh Nguyễn Văn Tâm; nơi cư trú: Cụm 7, Gia Phong, xã Tân Hưng, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng số tiền là 35.000.000 đồng.
- Nợ chị Vũ Thị Ngọt; nơi cư trú: Thôn Ph Trì 2, xã Hùng Tiến, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng số tiền là 40.000.000 đồng.
- Nợ chị Phạm Thị Đào; nơi cư trú: Thôn Bắc Tạ 1, xã Hùng Tiến, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng số tiền là 23.000.000 đồng.
- Nợ anh Trần Văn Lực; nơi cư trú: Thôn Nhân Mục, xã Nhân Hòa, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng số tiền là 23.900.000 đồng.
- Nợ anh Thảo ở Ph Trì 2, Hùng Tiến, Vĩnh Bảo, Hải Phòng số tiền là 40.000.000 đồng.
- Vay vốn nước sạch số tiền là 12.000.000 đồng.
- Nợ anh Phạm Duy Khanh số tiền là 20.000.000 đồng.
Khi ly hôn chị đề nghị Tòa án chia tài sản chung và nợ chung theo quy định của pháp luật.
Đến ngày 01 tháng 3 năm 2019, chị Nguyễn Thị Ph đã có đơn xin rút yêu cầu khởi kiện về việc chia tài sản chung, nợ chung của vợ chồng khi ly hôn và chị xin tự giải quyết với anh Ch.
Tại Biên bản ghi lời khai anh Phạm Bá Ch xác nhận về thời gian, hoàn cảnh và điều kiện kết hôn như chị Ph trình bày là đúng. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hoà thuận, hạnh phúc được đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng sống ly thân với nhau từ tháng 5 năm 2018, anh cũng đã đến tìm chị Ph nhiều lần nhưng chị Ph không về, vợ chồng sống ly thân với nhau từ đó đến nay. Nay chị Ph xin ly hôn, anh không đồng ý.
Về con chung: Anh xác nhận về con Ch như chị Ph trình bày là đúng. Trường hợp ly hôn anh đề nghị giao cả hai con Ch cho chị Ph trực tiếp nuôi dưỡng và anh không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Anh xin tự giải quyết với chị Ph.
Tại phiên tòa kiểm sát viên phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng như sau: Trong quá trình giải quyết vụ án thẩm phán, hội đồng xét xử, thư ký đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về thẩm quyền giải quyết vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, thu thập chứng cứ cũng như các hoạt động tố tụng khác. Nguyên đơn đã chấp hành nghiêm yêu cầu của Tòa án về việc cung cấp chứng cứ, tham gia phiên tòa và các hoạt động tố tụng khác theo đúng quy định của pháp luật, bị đơn chấp hành chưa nghiêm. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56, 81,82,83 Luật Hôn nhân và Gia đình xử cho chị Nguyễn Thị Ph được ly hôn với anh Phạm Bá Ch. Về con chung: Giao con chung Phạm Bá Đạt, sinh ngày 08-5-2003 và Phạm Ngọc Minh, sinh ngày 19-6-2008 cho chị Ph trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con anh chị tự giải quyết. Chấp nhận việc rút yêu cầu chia tài sản Ch của chị Ph và đình chỉ yêu cầu chia tài sản chung. Tài sản chung tự giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
1. Về tố tụng: Anh Phạm Bá Ch đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn Ph Trì 2, xã Hùng Tiến, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án ly hôn và tranh chấp nuôi con giữa chị Nguyễn Thị Ph và anh Phạm Bá Ch thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. Chị Nguyễn Thị Ph vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh Phạm Bá Ch hai lần vắng mặt tại phiên tòa không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị Ph và anh Phạm Bá Ch.
2. Về quan hệ vợ chồng: Quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Ph và anh Phạm Bá Ch phát sinh từ ngày 28-8-2002, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hùng Tiến, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau, vợ chồng thường xuyên xảy ra xô sát. Nay chị Ph xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị Ph yêu cầu được ly hôn. Qua xác minh tại địa Ph thấy vợ chồng có mâu thuẫn. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 5 năm 2018 không quan tâm đến nhau. Điều đó chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống Ch không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt. Do đó có căn cứ để xử cho chị Nguyễn Thị Ph được ly hôn anh Phạm Bá Ch theo Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
3. Về con chung: Vợ chồng có 02 con Ch là Phạm Bá Đạt, sinh ngày 08-5-2003 và Phạm Ngọc Minh, sinh ngày 19-6-2008. Ly hôn anh chị thỏa thuận giao cả hai con chung cho chị Ph trực tiếp nuôi dưỡng. Việc thỏa thuận của hai bên là phù hợp với Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình được chấp nhận. Về cấp dưỡng nuôi con anh chị tự thỏa thuận.
4.Về tài sản chung: Anh Ch xin tự giải quyết với chị Ph. Chị Nguyễn Thị Ph có đơn yêu cầu chia tài sản chung nhưng ngày 01 -3-2019 chị Ph có đơn xin rút đơn yêu cầu chia tài sản để tự giải quyết phần tài sản với anh Ch. Xét việc chị Ph rút yêu cầu chia tài sản chung là tự nguyện được chấp nhận.
5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ph phải chịu án phí sơ thẩm dân sự về ly hôn là 300.000 đồng. Số tiền chị Ph nộp tạm ứng án phí chia tài sản được trả lại cho chị Ph.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình,
Căn cứ Điều 147, 228, 266, điểm c khoản 1 Điều 217; khoản 1, 3 Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 6, khoản 3 Điều 18, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ vợ chồng: Xử cho chị Nguyễn Thị Ph được ly hôn anh Phạm Bá Ch.
2. Về con chung: Giao con chung Phạm Bá Đạt, sinh ngày 08-5-2003 và Phạm Ngọc Minh, sinh ngày 19-6-2008 cho chị Ph trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con chung anh chị tự giải quyết.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản Ch: Đình chỉ yêu cầu chia tài sản chung của chị Nguyễn Thị Ph. Chị Nguyễn Thị Ph, anh Phạm Bá Ch có quyền khởi kiện lại vụ án chia tài sản chung sau khi ly hôn theo quy định của pháp luật.
4. Án phí: Chị Nguyễn Thị Ph phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm. Chị Ph đã nộp tạm ứng án phí 7.500.000đ tại Biên lai thu số 1098 ngày 16-7-2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Bảo. Trả lại chị Ph 7.200.000 đồng.
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND TP Hải Phòng; - VKSND thành phố Hải Phòng; - VKSND huyện Vĩnh Bảo; - THADS huyện Vĩnh Bảo; - UBND xã Hùng Tiến, Vĩnh Bảo, Hải Phòng; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đỗ Văn Vinh |