- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị Hồng V - Vũ Văn C"
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử; Luật Phí và lệ phí
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM SÁCH TỈNH HẢI DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2019/HNGĐ-ST Ngày: 01 - 10 - 2019 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM SÁCH, TỈNH HẢI DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Kim Giang
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Đắc Quýnh
2. Bà Bùi Thị Quy
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Bách - Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách tham gia phiên toà: Ông Phùng Văn Huấn- Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm, công khai vụ án thụ lý số: 94/2019/TLST-HNGĐ ngày 04/6/2019 về ly hôn, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 19/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 12/9/2019 giữa các đƣơng sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị Hồng V, sinh năm 1981;
Địa chỉ: Thôn X, xã T, huyện C, thành phố Hà Nội; có mặt.
2. Bị đơn: Anh Vũ Văn C, sinh năm 1977;
Địa chỉ: Thôn N, xã Đ, huyện N, tỉnh Hải Dƣơng; vắng mặt.
Những người làm chứng:
1. Anh Vũ Văn T, sinh năm 1975;
Địa chỉ: Thôn N, xã Đ, huyện N, tỉnh Hải Dƣơng.
2. Ông Phạm Văn N, sinh năm 1953;
Địa chỉ: Thôn N, xã Đ, huyện N, tỉnh Hải Dƣơng.
Đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và ý kiến tại các buổi làm việc với Tòa án, nguyên đơn chị Lê Thị Hồng V trình bày: Chị và anh Vũ Văn C đăng ký kết hôn ngày 23/02/2010 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện N trên cơ sở tự nguyện và đƣợc hai bên gia đình tổ chức lễ cƣới theo phong tục tập quán địa phƣơng. Sau ngày cƣới, vợ chồng chung sống tại Thôn N, xã Đ, huyện N, tỉnh Hải Dƣơng. Đến năm 2011, vợ chồng sang Đài Loan lao động. Đƣợc một thời gian ngắn thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong vấn đề làm ăn kinh tế, dẫn đến thƣờng xuyên xảy ra đánh, cãi nhau. Sau đó, anh C bị công ty cắt hợp đồng phải về nƣớc, còn chị vẫn tiếp tục lao động tại Đài Loan. Năm 2016, chị nghỉ phép về nƣớc, nhƣng do vợ chồng tiếp tục mâu thuẫn nên chị về nhà bố mẹ đẻ chị ở Thôn X, xã T, huyện C, thành phố Hà Nội, sau đó tiếp tục sang Đài Loan lao động. Đến tháng 6/2017, chị biết tin anh C không chung thủy với chị, do vậy, chị không gọi điện và liên lạc với anh C nữa. Vợ chồng chính thức ly thân và không còn quan tâm đến nhau. Tháng 4/2019 chị về nƣớc do hết hạn lao động và về nhà bố mẹ đẻ chị ở, không thông báo cho anh C. Sau đó, chị và gia đình đến nhà của vợ chồng ở Thôn N, xã Đ, huyện N định để bắt quả tang việc anh C ngoại tình nhƣng anh C hôm đó không có nhà. Giữa chị và anh C đã cãi nhau qua điện thoại. Từ đó đến nay chị và anh C không liên lạc gì nữa. Nay chị xác định vợ chồng không thể về đoàn tụ đƣợc, vì vậy, đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn anh C. Về con chung: Chị xác định vợ chồng không có con chung. Về quan hệ tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Anh Vũ Văn C đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhƣng không đến tòa. Tại biên bản lấy lời khai ngày 04/9/2019 anh C trình bày thống nhất về thời gian, điều kiện kết hôn nhƣ lời trình bày của chị V. Về mâu thuẫn vợ chồng, anh xác định vợ chồng bất đồng quan điểm kể từ thời điểm năm 2011 khi anh và chị V lao động tại Đài Loan. Sau đó, khi anh về nƣớc thì vợ chồng vẫn thƣờng xảy ra cãi nhau trên điện thoại. Năm 2016, bố anh mất, chị V có về phép nhƣng sau đó lại đi tiếp. Vợ chồng từ đó không liên lạc với nhau. Chị V về nƣớc khi nào anh cũng không biết. Tháng 4/2019, chị V và gia đình đến nhà anh vào buổi tối đập cửa nhƣng anh không có nhà. Anh có điện thoại bảo anh em sang nói chuyện nhƣng chị V đã bỏ đi. Nay chị V làm đơn xin ly hôn, anh xác định chị V nghi ngờ, không tôn trọng anh và gia đình anh. Giữa anh và chị V cũng không còn tình cảm nên anh cũng nhất trí ly hôn chị V. Về con chung, tài sản chung: Anh xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh cũng có quan điểm là do bận công việc và không muốn gặp mặt chị V nên anh đề nghị tòa án cứ tiến hành giải quyết vắng mặt anh.
- Những ngƣời làm chứng:
Anh Vũ Văn T là anh trai anh C cung cấp: Sau ngày cƣới chị V về nhà anh C sống, đến năm 2011 thì vợ chồng sang Đài Loan lao động. Sau đó vài tháng, anh C về nƣớc còn chị V vẫn ở lại Đài Loan lao động. Năm 2016, bố anh mất, chị V có về phép rồi lại đi tiếp và không liên lạc với anh C nữa. Mâu thuẫn vợ chồng nhƣ thế nào không rõ nhƣng đến tháng 4/2019 thì chị V về nƣớc và cãi vã, mâu thuẫn với anh C qua điện thoại sau đó nộp đơn ly hôn anh C đến Tòa.
Ông Phạm Văn N là công an viên của xã Đồng Lạc, phụ trách thôn N xác định: Mâu thuẫn vợ chồng chị V anh C nhƣ thế nào ông không rõ. Mấy năm nay ông không thấy chị V ở nhà anh C. Khoảng tháng 4/2019, vào buổi tối, ông có nhận đƣợc điện thoại của anh C thông báo có ngƣời đến gây rối trật tự tại nhà anh. Khi ông đến thì thấy chị V và một số ngƣời lạ giới thiệu là ngƣời thân của chị V đứng ở cổng nhà anh C và muốn phá cửa vào nhà vì nghi ngờ anh C đang ở với ngƣời khác. Do anh C không có nhà và có một số ngƣời lạ nên ông có yêu cầu mọi ngƣời giải tán, chờ anh C về rồi giải quyết.
Tại phiên toà: Chị V giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và các quan điểm nhƣ nội dung đã nêu ở trên. Anh C đƣợc triệu tập hợp lệ nhƣng có đơn xin xét xử vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách bày tỏ quan điểm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thƣ ký tòa án trong quá trình thu thập chứng cứ, tiến hành tố tụng tại phiên toà đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật khi tham gia tố tụng. Bị đơn giai đoạn đầu không chấp hành việc triệu tập của tòa án nhƣng sau đó đã cơ bản chấp hành đúng các quy định của pháp luật khi tham gia tố tụng. Về đƣờng lối giải quyết đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng: Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị Hồng V ly hôn anh Vũ Văn C. Về con chung: Không có. Về quan hệ tài sản chung: Không đặt ra việc xem xét, giải quyết. Về án phí: Chị V phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
nhËn ®Þnh cña tßa ¸n:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của các đƣơng sự, ngƣời làm chứng đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bị đơn - anh Vũ Văn C đã đƣợc Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đƣa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập nhƣng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt anh C.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Hồng V và anh Vũ Văn C kết hôn với nhau ngày 23/02/2010 trên cơ sở tự nguyện, đảm bảo các điều kiện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Đ, huyện N. Do vậy, hôn nhân của chị V, anh C là hợp pháp. Sau khi kết hôn một thời gian ngắn (từ năm 2010 đến năm 2011) vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong quản lý, làm ăn kinh tế, không tin tƣởng nhau. Từ năm 2016 đến nay vợ chồng đã sống ly thân và không quan tâm đến nhau. Mặc dù, Tòa án đã triệu tập anh C đến Tòa án nhiều lần, anh C biết nhƣng không đến Tòa án, thể hiện sự thờ ơ, bỏ mặc tình trạng mâu thuẫn vợ chồng. Hội đồng xét xử thấy rằng việc chị V, anh C không sống chung; không quan tâm, chăm sóc, giúp đ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện công việc gia đình đã vi phạm nghiêm trọng quyền, ngh a vụ của vợ chồng quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt đƣợc. Do vậy, cần căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử chấp nhận yêu cầu của chị V xin ly hôn với anh C.
[3] Về con chung: Không có nên không đặt ra việc xem xét, giải quyết.
[4] Về quan hệ tài sản chung: Chị V và anh C không yêu cầu giải quyết nên không xét.
[5] Về án phí: Chị V là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
V× c¸c lÏ trªn,
QuyÕt ®Þnh:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị Hồng V ly hôn anh Vũ Văn C.
2. Về con chung: Không có.
3. Về quan hệ tài sản chung: Không đặt ra việc xem xét, giải quyết.
4. Về án phí: Chị Lê Thị Hồng V phải nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm ly hôn, đƣợc đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ mà chị V đã nộp theo biên lai thu số: AA/2017/0004571 ngày 04/6/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dƣơng. Chị V đã nộp đủ án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc ngày bản án đƣợc niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Nam Sách; - Chi cục THADS huyện Nam Sách; - UBND xã Đ; - Các đƣơng sự; - Lƣu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Kim Giang |