vanban.org

Bản án 19/2019/HNGĐ-ST — Tranh chấp về cấp dưỡng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Thanh D về việc “Tranh chấp về cấp dưỡng nuôi con” đối với ông Nguyễn Ngọc C. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về cấp dưỡng — án hôn nhân và gia đình — "Bà Trần Thị Thanh D khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Ngọc C cấp dưỡng nuôi con."
  • Tòa quyết gì? Điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HẢI CHÂU
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 21/8/2019
V/v "Tranh chấp về cấp dưỡng nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thanh Thủy

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Thanh Trà và ông Nguyễn Văn Sanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh Đào – Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

Trong ngày 21 tháng 8 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 20/2019/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2019 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thanh D – sinh năm 1975. Có mặt

Địa chỉ: đường N, phường B, quận H, thành phố Đà Nẵng.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc C – sinh năm 1971. Vắng mặt

Địa chỉ: đường T, phường B, quận H, thành phố Đà Nẵng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện và tại phiên tòa hôm nay bà Trần Thị Thanh D trình bày:

Bà và ông Nguyễn Ngọc C đã ly hôn theo quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 100/2014/QĐST-HNGĐ ngày 30/6/2014 của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Tại quyết định trên, Tòa án giao cho bà được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung tên Nguyễn T – sinh ngày 23 tháng 02 năm 2003 và Nguyễn M – sinh ngày 10 tháng 11 năm 2005. Ông Nguyễn Ngọc C không phải cấp dưỡng nuôi con. Đối với con chung tên Nguyễn Q, sinh ngày 06/9/1995 đã thành niên nên không đề cập giải quyết. Tuy nhiên, hiện nay hoàn cảnh gia đình bà rất khó khăn. Con lớn Nguyễn Q hiện đang phải chấp hành án phạt tù, hai con nhỏ đang tuổi ăn học. Bà cùng các con đang thuê chung cư thuộc trường hợp nhà ở xã hội của nhà nước, gia đình thuộc hộ nghèo có xác nhận của địa phương. Ông Nguyễn Ngọc C hiện nay có thu nhập ổn định, có 09 phòng trọ cho thuê tại đường T, phường B, quận H, thành phố Đà Nẵng và đang làm kinh tế buôn bán. Nay bà yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Ngọc C thực hiện việc cấp dưỡng nuôi con đối với cháu Nguyễn T 3.000.000 đồng/tháng và cháu Nguyễn M 3.000.000 đồng/tháng. Thời gian cấp dưỡng từ tháng 2/2019 đến khi các con đủ 18 tuổi. Tại phiên tòa, bà D rút một phần yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi hai con chung mỗi tháng 3.000.000 đồng (mỗi con chung 1.500.000 đồng/tháng). Thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 8/2019 cho đến khi các con chung thành niên.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là ông Nguyễn Ngọc C trình bày: Đối với dãy trọ đang cho thuê tại đường T, phường B, quận H, thành phố Đà Nẵng là tài sản của ông Nguyễn Y và bà Nguyễn Thị A, không thuộc sở hữu của ông C. Hiện nay ông được thuê để quản lý dãy trọ trên, với mức thù lao 6.000.000 đồng mỗi tháng. Ngoài ra ông còn đang bệnh viêm xương mãn tính, phải điều trị thường xuyên nên không thể lao động để có thu nhập khác. Đồng thời, tại phiên hòa giải ngày 02/4/2019, và văn bản gửi Tòa án ngày 02/8/2019, ông C đồng ý cấp dưỡng nuôi hai con với số tiền 3.000.000 đồng mỗi tháng (1.500.000 đồng đối với mỗi con chung) kể từ tháng 8/2019 cho đến khi hai con chung thành niên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của bà Trần Thị Thanh D đối với ông Nguyễn Ngọc C là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận Hải Châu theo qui định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Do bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 nên căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung tranh chấp: Xét yêu cầu của bà D thì thấy, bà D và ông Nguyễn Ngọc C đã ly hôn theo quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 100/2014/QĐST-HNGĐ ngày 30/6/2014 của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Tại thời điểm ly hôn, bà được giao trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung tên Nguyễn T – sinh ngày 23 tháng 02 năm 2003 và Nguyễn M – sinh ngày 10 tháng 11 năm 2005. Ông C không phải cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, hiện nay gia đình bà rơi vào hoàn cảnh khó khăn, có xác nhận là hộ nghèo của địa phương. Do đó, bà không đủ khả năng kinh tế để chăm sóc cho hai con. Để đảm bảo việc chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần, tại Điều 81, khoản 2 Điều 82, khoản 1 Điều 107 Luật hôn nhân và gia đình quy định cha mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu của bà D về việc yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi hai con chung Nguyễn T và Nguyễn M. Đối với mức cấp dưỡng, tại phiên tòa bà D rút một phần yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi hai con chung mỗi tháng 3.000.000 đồng (mỗi con chung 1.500.000 đồng/tháng). Thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 8/2019 cho đến khi các con chung thành niên. Tại phiên hòa giải ngày 02/4/2019 và tại văn bản gửi Tòa án ngày 02/8/2019, ông C cũng đồng ý cấp dưỡng nuôi hai con chung mỗi tháng 3.000.000 đồng (mỗi con chung 1.500.000 đồng/tháng). Thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 8/2019 cho đến khi các con chung thành niên. Xét thấy, mức cấp dưỡng 1.500.000 đồng/tháng đối với mỗi con chung là phù hợp với điều kiện xã hội hiện nay, phù hợp với yêu cầu nguyện vọng của các bên đương sự, đảm bảo được mức sống cơ bản cho các con chung, nên HĐXX chấp nhận.

Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm ông Nguyễn Ngọc C phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Các Điều 81, khoản 2 Điều 82 và khoản 1 Điều 107 Luật hôn nhân và gia đình;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Thanh D về việc “Tranh chấp về cấp dưỡng nuôi con” đối với ông Nguyễn Ngọc C.

Xử:

Buộc ông Nguyễn Ngọc C phải cấp dưỡng nuôi con đối với 02 con chung tên Nguyễn T – sinh ngày 23 tháng 02 năm 2003 và Nguyễn M – sinh ngày 10 tháng 11 năm 2005. Mức cấp dưỡng mỗi tháng 1.500.000đ/01 con chung. Thời gian cấp dưỡng từ tháng 8/2019 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bà D (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, ông C còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

2. Án phí Dân sự sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) ông Nguyễn Ngọc C phải chịu.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được (hoặc niêm yết) bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

N i nhận:

Cỡ chữ