vanban.org

Bản án 19/2019/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng T về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng vay tài sản đối với anh Nguyễn Trung N.

Buộc anh Nguyễn Trung N trả cho Ngân hàng T số tiền là 22.662.094đ (Hai mươi hai triệu, sáu trăm sáu mươi hai ngàn không trăm chín mươi bốn đồng), trong đó: Nợ gốc là 19.250.000đ, lãi trong hạn 1.652.399đ và quá hạn là 1.759.695đ. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng T - Nguyễn Trung N"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng T về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng vay tài sản đối với anh Nguyễn Trung N.
  • Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN U MINH THƢỢNG
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2019/DS-ST
Ngày: 28/5/2019
V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản (tín dụng)”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH THƢỢNG - TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lƣ Quốc Thịnh

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Hoàng Hổ.

2/ Bà Nguyễn Thị Ngọc Kim

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Út Sang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện U Minh Thượng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh Thượng tham gia phiên toà: Ông Lê Hữu Nghị - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U Minh Thượng, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 10/2019/TLST-DS, ngày 10 tháng 01 năm 2019 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản (tín dụng)” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2019/QĐST-DS ngày 23 tháng 4 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2019/QĐST-DS ngày 09 tháng 5 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng T

Trụ sở: 109, phường C, quận H, thành phố Hà Nội

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Doãn S

Chức vụ: Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1961.

Địa chỉ: * 10, phường A, thành phố G, tỉnh Kiên Giang

Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng T - Chi nhánh tỉnh Kiên Giang.

( Theo Quyết định ủy quyền số 6650/2017/QĐ-TGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Tổng giám đốc)

Người đại diện tham gia tố tụng: Ông Lâm Vĩnh T, sinh năm 1985 (Có mặt)

Chức vụ: Giám đốc Phòng giao dịch U Minh Thượng - Ngân hàng T. (Theo giấy ủy quyền số 350/2019/QĐ-LienVietPostBank.KG ngày 26 tháng 01 năm 2019).

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Trung N, sinh năm 1985.

3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1986. ( Vợ của ông Nguyễn Trung N)

Cùng địa chỉ: Ấp M, xã Mn, huyện U, tỉnh Kiên Giang.

( Anh N và Chị T vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 25/5/2018 và các lời khai khác ông Lâm Vĩnh T đại diện cho nguyên đơn trình bày:

Ngày 22/7/2015 anh Nguyễn Trung N có ký hợp đồng tín dụng số 2468/2015/KG/HDTD-LienVietPostBank vay của Ngân hàng T (gọi tắt là Ngân hàng) số tiền 70.000.000 đồng, thời hạn vay là 48 tháng, lãi suất 14,5%/năm, Anh N trả gốc lãi hàng tháng, mỗi tháng trả gốc là 1.450.000 đồng và lãi phát sinh theo hợp đồng. Mục đích vay là vay tiêu dùng và vay tín chấp, không có tài sản bảo đảm.

Sau khi được giải ngân số tiền vay nêu trên, anh Nguyễn Trung N thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng theo đúng hợp đồng cho đến ngày 15/6/2018 thì anh Nguyễn Trung N không trả tiền cho Ngân hàng đến nay.

Tính đến ngày 03/10/2018 anh Nguyễn Trung N còn nợ Ngân hàng số tiền tổng cộng là 20.127.769đ. Trong đó, nợ gốc là là 19.250.000đ, nợ lãi trong hạn và lãi quá hạn là 877.769đ, do trong quá trình vay anh N đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ với Ngân hàng.

Vì vậy, Ngân hàng T khởi kiện yêu cầu giải quyết buộc anh Nguyễn Trung N trả số nợ vay tính đến ngày 03/10/2018 là 20.127.769đ và tiếp tục tính lãi theo mức lãi suất đã ghi trong hợp đồng tín dụng đã ký với Ngân hàng Bưu Điện Liên Việt cho đến khi trả dứt nợ.

Bị đơn anh Nguyễn Trung N, người có quyền lợi và nghĩa liên quan chị Nguyễn Thị T: Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên phiên họp kiễm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, các thủ tục tố tụng khác theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự cho anh N, chị T biết để tham gia giải quyết vụ án nhưng những người này vắng mặt, do đó Tòa án không tiến hành hòa giải được vụ án mà lập các thủ tục đầy đủ để làm cơ sở đưa vụ án ra xét xử theo quy định.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Ngân hàng yêu cầu giải quyết buộc anh Nguyễn Trung N trả số tiền nợ tổng cộng tính đến ngày 28/5/2019 là 22.662.094đ, trong đó: Nợ gốc là 19.250.000đ, lãi trong hạn 1.652.399đ và quá hạn là 1.759.695đ và tiếp tục tính lãi theo theo hợp đồng tín dụng đã ký với Ngân hàng Bưu Điện Liên Việt cho đến khi trả dứt nợ.

Bị đơn anh Nguyễn Trung N, người có quyền lợi và nghĩa liên quan chị Nguyễn Thị T vắng mặt tại phiên tòa.

Quan điểm của đại viện Viện kiểm sát:

Về phần thủ tục: Từ khi thụ lý hồ sơ vụ án cho đến khi đưa vụ án ra xét xử thì Thẩm phán đã thực hiện trình tự thủ tục đúng theo quy định của pháp luật. Tại phiên toà, Hội đồng xét xử và thư ký đã thực hiện trình tự thủ tục đúng theo quy định của pháp luật.

Về phần nội dung: Đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thẩm quyền xét xử: Xét mối quan hệ tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp về hợp đồng dân sự, nơi bị đơn cư trú tọa lạc trên địa phận hành chính của huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang nên căn cứ Điều 26 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.

Về quan hệ pháp luật: Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng đối với anh Nguyễn Trung N thì đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng vay tài sản, giao dịch này thực hiện từ năm 2015 cho đến nay nên được điều chỉnh theo quy định tại Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2005 là phù hợp theo quy định điểm a khoản 1 Điều 688 Bộ Luật Dân sự năm 2015.

Về thủ tục tố tụng: Đối với bị đơn anh Nguyễn Trung N, người có quyền lợi và nghĩa liên quan chị Nguyễn Thị T được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt đối với bị đơn anh Nguyễn Trung N, người có quyền lợi và nghĩa liên quan chị Nguyễn Thị T.

Xét về nội dung vụ án: Ngày 22/7/2015, anh Nguyễn Trung N có ký hợp đồng tín dụng số 2468/2015/KG/HDTD-LienVietPostBank vay của Ngân hàng Bưu Điện Liên Việt số tiền 70.000.000 đồng, thời hạn vay là 48 tháng, lãi suất 14,5%/năm, anh N có nghĩa vụ trả nợ gốc lãi hàng tháng, mỗi tháng trả gốc là 1.450.000 đồng và lãi phát sinh theo hợp đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng, Anh Nguyễn Trung N thực hiện việc trả nợ không đúng như thỏa thuận hợp đồng. Cụ thể, đến thời điểm hiện tại Anh N còn nợ lại số tiền gốc là 19.250.000đ, lãi trong hạn 1.652.399đ và quá hạn là 1.759.695đ chưa thanh toán. Anh N đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán của bên vay theo hợp đồng tín dụng đã ký kết với Ngân hàng tại khoản 1 Điều 7 của hợp đồng tín dụng số 2468/2015/KG/HDTD-LienVietPostBank, ngày 22/7/2015. Do đó yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Bưu Điện Liên Việt đòi anh Nguyễn Trung N trả số tiền 22.662.094đ là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 474 Bộ luật Dân sự 2005.

Về trách nhiệm trả nợ: Xét thấy, việc anh Nguyễn Trung N vay số tiền trên của Ngân hàng thì không có căn cứ xác định được chị Nguyễn Thị T là vợ của anh N biết được việc này hay không cũng như chị T có cùng sử dụng số tiền vay này không nên không có căn cứ để xem xét buộc chị T cùng có trách nhiệm với anh N trả số tiền này cho Ngân hàng.

Án phí dân sự sơ thẩm vụ án: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nên bị đơn anh Nguyễn Trung N phải chịu án phí sơ thẩm.

Số tiền án phí anh Nguyễn Trung N phải chịu là 22.662.094đ x 5% = 1.133.104đ, làm tròn là 1.133.000đ (Một triệu một trăm ba mươi ba ngàn đồng).

Ngân hàng T được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 503.000đ (Năm trăm lẻ ba ngàn đồng) theo biên lai thu số 0000760 ngày 28 tháng 12 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện U Minh Thượng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 26, 39, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; các Điều 471, 474 Bộ luật dân sự 2005; điểm a khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng T về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng vay tài sản đối với anh Nguyễn Trung N.

2. Buộc anh Nguyễn Trung N trả cho Ngân hàng T số tiền là 22.662.094đ (Hai mươi hai triệu, sáu trăm sáu mươi hai ngàn không trăm chín mươi bốn đồng), trong đó: Nợ gốc là 19.250.000đ, lãi trong hạn 1.652.399đ và quá hạn là 1.759.695đ.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Anh Nguyễn Trung N phải nộp toàn bộ án phí là 1.133.000đ (Một triệu một trăm ba mươi ba ngàn đồng).

Ngân hàng T được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 503.000đ (Năm trăm lẻ ba ngàn đồng) theo biên lai thu số 0000760 ngày 28 tháng 12 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang.

4. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt đại diện nguyên đơn, báo cho Ngân hàng T biết có quyền kháng cáo Bản án trong hạn luật định là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 28/5/2019). Đối với bị đơn anh Nguyễn Trung N và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị T vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn luật định 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc tống đạt hợp lệ Bản án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ